CHƯƠNG 3. LÃNH ĐẠO
Tại sao lại là Trí tuệ Xúc cảm?
Không nghi ngờ gì nữa trí tuệ xúc cảm còn quý hiếm hơn một cuốn sách thông minh, nhưng kinh nghiệm mách bảo tôi rằng để tạo nên một lãnh đạo, trí tuệ xúc cảm còn thực sự quan trọng hơn thế. Bạn không thể làm ngơ nó được.
- JACK WELCH
Một hôm tôi có buổi thuyết trình trước một nhóm đông đảo các nhà lãnh đạo giáo dục. Tôi đề nghị tất cả mọi người nghĩ lại về thời tốt nghiệp trung học. “Có ai còn nhớ bạn thủ khoa đọc diễn văn tốt nghiệp không?” Tôi hỏi. Như thường lệ, khi tôi hỏi câu này thì thấy rất nhiều cánh tay trong phòng họp giơ lên.
“Bạn ấy giờ đâu rồi có ai biết không?” Một lần nữa, như thường lệ khoảng nửa cánh tay trong phòng giơ lên.
Tiếp tục một câu hỏi gần hơn nữa, “Có bao nhiêu người trong số này sống với mong muốn rằng bạn thủ khoa ấy sẽ thành công trong cuộc sống?” Với câu hỏi này, tôi thường chỉ thấy lác đác những cánh tay giơ lên. Hiếm hoi mới có một người nói chuyện về một sinh viên đã trở thành giáo sư tại Harvard hay MIT.
Thông thường tôi thu lượm được những câu chuyện rải rác về một kẻ thất bại ở trường - Fred, anh chàng xấu xí, ngu ngốc vừa kiếm được hàng triệu đô la khi khởi nghiệp, hoặc Jill kẻ đơn độc, cuối cùng làm ca sĩ trong một ban nhạc rock giàu có và nổi tiếng. Còn những ai nữa đây?
Nhưng lần này một ông già bước đến bên tôi và nới, “tôi không những còn nhớ anh bạn thủ khoa ở trường trung học, mà tôi còn rất hay gặp gỡ anh ta nữa.”
“Thật không ạ?” Tôi hỏi.
“Đúng,” ông ta giải thích. “Anh biết không, George và tôi là bạn cùng lớp từ hồi lớp ba. Cậu ấy đúng là thiên tài, học giỏi nhất là toán và các môn khoa học. Không bài toán nào mà cậu ấy không giải được. Chúng tôi là bạn thân suốt thời gian phổ thông, Và cậu ấy đỗ thủ khoa - đúng là tuyệt vời. Còn tôi ấy hả? Tôi chẳng giỏi giang gì, cứ thế tằng tằng mà tiến mỗi năm thôi. Nhưng tôi là người ham vui. Tô biết đi đâu dự tiệc, biết đi đâu để tìm vui. Phải nói rằng tôi là một trong những anh chàng nổi tiếng ở trường.”
“Thế chuyện gì đã xảy ra với George?” Tôi hỏi.
“À chúng tôi đều làm giáo viên, vẫn là bạn bè tốt. Dần dần tôi được thăng chức lên làm hiệu trưởng. Một thời gian ngắn sau đó tôi làm giám đốc học khu.”
“Còn George?” Tôi hỏi lại.
“Cậu ấy vẫn thế. Cứ mỗi tháng một lần tôi vẫn gặp cậu ấy. Lần trước gặp nhau cậu ấy bảo mình đang mong được về hưu. Suốt thời gian ấy George đã làm cấp dưới của tôi - gần như trọn cuộc đời giáo mác. Thế nên tôi đoán anh sẽ nói chúng tôi kỳ vọng sự nghiệp của cậu ấy bay cao chứ không phải làm ông giáo chết dí mãi ở cái trường ấy. Thật tôi chưa từng nghĩ rằng thằng tôi, một học sinh điểm C+ lại làm cấp trên của cậu ấy. Thế giới điên rồ nhỉ?”
Suốt bao năm chúng ta đã dựa dẫm và nhiều nhà tuyển dụng vẫn tin tưởng rằng trí tuệ nhận thức, hay IQ dự báo chính xác những năng lực lãnh đạo. Tính trung bình, trong khi hoàn toàn có khả năng IQ các lãnh đạo cao hơn IQ của thuộc cấp, nhận định IQ dự báo chính xác năng lực lãnh đạo vẫn không đúng. Thực ra, giờ đây có nhiều nghiên cứu phát hiện các lãnh đạo có IQ cao có thể không giỏi giang bằng những người có IQ thấp. Nhưng trước khi đến với điều này, hãy cùng xem chúng ta đã quá dựa dẫm vào IQ như công cụ dự báo năng lực lãnh đạo thành công như thế nào.
Bước Tiến hóa của Trí tuệ
Đã hơn 100 năm rồi nhưng các nhà tâm lý học vẫn không ngừng thử nghiệm IQ, hoặc trí tuệ nhận thức. Thú vị ở chỗ qua bao năm tháng và hàng trăm nghiên cứu, chúng ta vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa chấp nhận được về trí tuệ nhận thức. Làm thế nào IQ, những thử nghiệm thành tựu và năng lực có liên quan của nó chi phối xã hội chúng ta - thông qua các trường học, các kỳ thi vào đại học, các đợt tuyển sinh vào trường chuyên và nhiều công ty khác?
Hãy cùng quay về năm 1905 khi nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet, cùng người bạn đồng nghiệp của ông, chuyên gia tâm thần học Theodore Simon, phát triển hình thức thử nghiệm trí tuệ chính thức đầu tiên.
Ban giám hiệu trường Parisian đã đề nghị Binet nghĩ ra cách phân loại trẻ em theo năng lực. Mục đích cũng chẳng tử tế cho lắm: Loại bớt mấy đứa “đầu đất” (những đứa sẽ chẳng học hỏi được gì từ hệ thống trường công lập). Binet từ lâu đã tin rằng trí tuệ là một quá trình kết hợp gồm đánh giá, giải quyết vấn đề và lý luận. Giờ thì ông có thể đưa các lý thuyết của mình vào thực tế. Ông cùng Simon hoàn thành và cho ra mắt một thử nghiệm IQ - ban đầu được thực hành với trẻ em - cho phép ông thu được các tiêu chuẩn về hiệu suất công việc ở các nhóm tuổi khác nhau. Các tiêu chuẩn này hình thành nền móng của lứa tuổi về sau được biết đến là “tuổi tâm thần”. Các kết quả thử nghiệm tạo mối liên kết giữa tuổi tâm thần của con người với các cấp độ trưởng thành và phát triển trí tuệ trung bình.
Năm 1910, thử nghiệm Binet-Simon du nhập vào Mỹ, nơi nhà giáo dục học và tâm lý học Henry Goddard đã thành lập ngôi trường của riêng ông dành cho bọn trẻ “đầu đất” tại New Jersey. Về sau thử nghiệm được Lewis Terman, trường ĐH Stanford, tiến hành sửa đổi và chuẩn hóa nhằm phù hợp hơn với dân chúng Mỹ, thử nghiệm được bắt đầu áp dụng cho cả trẻ em lẫn người lớn, và trở nên nổi tiếng với cái tên thử nghiệm Stanford-Binet.
Vào lúc này, khả năng đánh giá trí tuệ nhận thức một lần nữa trở nên quan trọng. Không chỉ vì nó xác định được và loại bớt lũ trẻ “đầu đất” vốn không thể hưởng lợi nhiều từ giáo dục, mà còn lựa chọn ra những đứa trẻ đạt điểm cao, có thể được kỳ vọng đạt kết quả cao nhất trong học tập. IQ sớm tự sống cuộc đời của chính nó. Nói chung IQ được xem là một yếu tố chính không chỉ trong trường học mà còn ở công sở và trong các mối quan hệ cá nhân.
Sau đó rất nhiều tranh cãi đã nổi lên quanh khái niệm về IQ, cả ở các trường học lẫn tại nhiều công sở. Cũng như các tranh luận về tầm ảnh hưởng của gien di truyền và môi trường (ví dụ giữa tự nhiên và giáo dục). Thêm nhiều tranh cãi nữa phát sinh về những khác biệt văn hóa và chủng tộc. Tuy nhiên, IQ hoặc trí tuệ nhận thức đã chứng tỏ sức mạnh vượt trội của nó trong tuyển chọn sinh viên ở trường đại học, các chương trình tốt nghiệp và chuyên môn và tại nhiều công sở nữa.
IQ là gì?
Kể từ thời của Binet và Simon thử nghiệm IQ đã khá phát triển. Ngày nay hãy cùng nhìn lại xem năng lực nhận thức thực sự đánh giá điều gì. Chúng đánh giá khả năng tập trung của bạn, kế hoạch sử dụng tài liệu và ngôn từ của bạn để mọi người hiểu, tiếp thu và giải thích được các thông tin. Về cơ bản, IQ là dụng cụ đánh giá ngân hàng thông tin cá nhân của bạn - hồi ức, vốn từ vựng, các kỹ năng toán học và hệ thống cơ thị giác. Vài kỹ năng trong số này rõ ràng cần thiết ở công sở.
Chúng ta đã có hàng trăm năm nghiên cứu về thử nghiệm trí tuệ nhận thức và khả năng dự đoán kết quả của nó. Chúng ta nghĩ gì về khả năng dự đoán thành công trong công việc của IQ? Richard Wagner, trong bài nhận xét quan trọng về chủ đề này, sau khi xem xét các nhận xét phê bình và hàng trăm nghiên cứu với hàng nghìn chủ đề đã đưa ra những kết luận thú vị. Phê bình của ông về các nhận xét (hoặc phương pháp phân tích tổng hợp) cho thấy nhìn chung, những người đề nghị thử nghiệm IQ giải thích nghiên cứu ước tính rằng IQ chiếm 25% biến số trong dự đoán hiệu suất công việc. Nói cách khác, 25% hiệu suất công việc của một cá nhân có thể là nhờ IQ. Tuy nhiên, khi có cái nhìn thực tế hơn vào các nghiên cứu, và chọn ra một số trong các dự tính lạm phát, Wagner kết luận rằng con số gần đạt mức 4 - 9% biến số. Thậm chí nếu IQ chiếm đến 25% hiệu suất công việc thật, thì vẫn còn 75% không được tính đến. Các yếu tố bị loại ra bao gồm kinh nghiệm, trình độ giáo dục, các kỹ năng kỹ thuật và nhiều yếu tố khác.
Trong nhận xét khác của Robert Sternberg khi còn ở trường ĐH Yale, IQ được dự tính chỉ chiếm 4% biến số trong hiệu suất công việc. Tức là có khoảng 96% hiệu suất công việc là do các biến số khác ngoài trí tuệ nhận thức. Sternberg tiếp tục nhấn mạnh những ưu điểm của trí thực tế, hoặc phán đoán theo kinh nghiệm, trong dự đoán thành công trong công việc. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, trí tuệ xúc cảm có thể được tính đến như một biến số quan trọng trong hiệu suất công việc.
Trí tuệ Xúc cảm Là gì?
Trong khi trí tuệ xúc cảm là một khái niệm tương đối mới, các kỹ năng chúng ta nói đến đã tồn tại thậm chí từ thuở xa xưa khi con người biết sống với nhau thành bộ lạc. Nhóm kỹ năng tạo nên trí tuệ xúc cảm đã song song tiến hóa cùng nhân loại. Nhu cầu đối mặt, thích nghi và cùng nhau chung sống đã trở nên thiết yếu đảm bảo sự tồn tại của các tộc người đầu tiên sống bằng săn bắn hái lượm. Não bộ con người phản ánh sự thật không thể chối cãi này. Các kỹ thuật lập bản đồ não bộ tinh tế đã xác nhận nhiều quá trình truyền suy nghĩ qua các trung tâm cảm xúc trong não bộ, trong chuyến chu du tâm lý biến thông tin thành hành động hoặc phản ứng của cá nhân.
Vậy thì nói cách khác, cảm xúc tồn tại từ xa xưa. Trong những năm 1870, Charles Darwin đã xuất bản cuốn sách hiện đại đầu tiên về vai trò của thể hiện cảm xúc trong sinh tồn và thích nghi. Cuốn sách mang tựa đề Thể Hiện Cảm Xúc Ở Người và Động Vật. Như đã nói, rất nhiều tranh cãi đã nổ ra liên quan đến việc chúng ta đánh giá trí tuệ nhận thức công bằng giữa các nền văn hóa và các chủng tộc. Thực ra vài chính quyền đã ban lệnh cấm tiến hành loại hình thử nghiệm này. Tuy nhiên, khi liên quan đến những cảm xúc thấu hiểu, Darwin đã vượt qua những rào cản văn hóa, ông xem xét đến khả năng những thể hiện cảm xúc có thể lây truyền giữa các loài. Tôi thường xuyên hỏi khán giả trong các buổi thuyết trình của tôi rằng nhà họ có vật nuôi không. Nếu nhiều người bảo có, tôi liền hỏi có bao nhiêu người nuôi thú cưng nhận ra khi nào thì vật nuôi hạnh phúc, khi nào nó thấy buồn bã, hưng phấn hay sợ hãi. Không chút ngần ngừ họ đều gật đầu và mỉm cười. Chà nếu chúng ta có thể đọc được cảm xúc trên mọi giống loài, vậy thì chắc phải có những quy định rõ ràng được áp dụng ở các nền văn hóa và chủng tộc. Và nghiên cứu của chúng ta đã chứng minh điều này là đúng. Tất nhiên đôi khi các nhà nghiên cứu phải tốn rất nhiều mồ hôi và chi phí để khám phá những chuyện mà nhiều người đã biết từ lâu qua trải nghiệm.
Tại sao nó lại quan trọng như thế? Darwin đã dẫn chứng bằng tài liệu về tầm quan trọng của các cảm xúc như một hệ thống phát tín hiệu. Vẻ mặt giận dữ trên gương mặt con sói được xem như là tín hiệu rằng người thợ săn sắp phải trả giá vì liều lĩnh. Phản ứng chiến-hay-chạy xuất hiện khi đọc cảm xúc trên sắc mặt con sói. Theo Darwin, khả năng đọc được những cảm xúc này giúp con người sinh tồn. Các khu vực thấp hơn, nguyên thủy hơn trong não bộ con người làm trung gian cho phản ứng này. Có những bộ phận tương tự kiểm soát phản ứng cảm xúc của bạn ngày nay. Các vùng này trong não bộ được gọi là hệ thống đường biên não và vùng đồi hải mã.
Các bộ phận cảm xúc này trong não bộ gây ảnh hưởng đến cách các vùng nằm cao hơn, tiến bộ hơn trong não bộ con người - có tên là lớp vỏ não mới - hoạt động. Khi bạn đưa ra những quyết định phức tạp (như khi giao tiếp với người khác, giải quyết các vấn đề v.v...) các bộ phận nằm thấp hơn trong não bộ vẫn hoạt động; chúng đóng vai trò giúp bạn thực hiện rất nhiều nhiệm vụ. Các cảm xúc ảnh hưởng đến quyết định và phản ứng của bạn với các sự kiện (thậm chí là những sự kiện khá quan trọng) và với mọi người.
Sở hữu trí tuệ xúc cảm tốt liên quan đến chức năng hoạt động tốt của các bộ phận thấp hơn và cao hơn trong não bộ. Các bộ phận thấp hơn giúp con người sinh tồn khi làm thợ săn, khiến họ không ngừng cảnh giác trước nguy hiểm và nhận thức được các cơ hội, tầm quan trọng cũng chẳng khác gì ngày nay khi bảo đảm con người phản ứng thích hợp với những yếu tố gây căng thẳng và những khả năng họ phải đối mặt mỗi ngày. Bằng cách tiết chế phản ứng của bạn đối với con người và những hoàn cảnh thách thức - đọc chính xác con người và hoàn cảnh này - bạn học được cách chuyển phản ứng chiến-hay-chạy thành các phản ứng dễ chấp nhận hơn về mặt xã hội. Trở thành người thông minh khi bạn biết rõ mình làm gì cũng như làm thế nào là tốt nhất.
Nhà khoa học Antonio Damasio đã cung cấp vài nghiên cứu bổ sung. Ông nghiên cứu các bệnh nhân mắc chấn thương não cụ thể, mất khả năng cảm nhận và bộc lộ cảm xúc rõ ràng. Ông thấy rằng các bệnh nhân bị tổn thương các cơ quan cảm xúc trong não bộ gặp khó khăn ngay cả khi đưa ra các quyết định đơn giản. Ông kết luận, “Chẳng những không thể can thiệp một cách sáng suốt, việc không thể cảm nhận và bày tỏ cảm xúc sẽ triệt tiêu óc duy lý và khiến bệnh nhân không thể đưa ra các quyết định thông minh. Các quyết định có hiệu quả nhất phải có sự hỗ trợ của cảm xúc.”
Một nghiên cứu khác gần đây tập trung vào khía cạnh giải quyết vấn đề hoạt động mạnh và vai trò của các cảm xúc. Được đăng trên tờ Harvard Business Review, Roderick Gilkey, Ricardo Caceda và Clinton Kilts nghiên cứu hoạt động não bộ của dân kinh doanh khi đang cố gắng giải quyết các bài toán kinh doanh chiến lược. Họ được trao cho các loại vấn đề cao cấp mà các nhà lãnh đạo cần phải giải quyết, nói chung là sử dụng cách tiếp cận logic-hợp lý. Trong khi đang giải quyết vấn đề, hoạt động não bộ của họ được đánh giá bằng các quy trình tạo hình ảnh cộng hưởng từ fMRI. Và một nhóm các chuyên gia độc lập sẽ đánh giá những giải pháp của họ đưa ra. Khi giải pháp này phù hợp với kết quả của các chuyên gia đánh giá giải pháp chiến lược theo sóng não từ fMRI, họ thấy có hoạt động nhiều hơn ở các bộ phận liên kết với cảm xúc và trực giác trong não bộ của các nhà tư duy chiến lược giỏi nhất. Có lẽ tư duy duy lý của họ thậm chí bị các hệ thần kinh ép phải thả lỏng các khu vực này trong thời gian giải quyết vấn đề.
Các nhà tâm lý học đề xuất một số định nghĩa trí tuệ xúc cảm, nhưng tất cả có xu hướng tập trung quanh ý tưởng đằng sau lý do tại sao vài người lại thông minh theo nhiều cách (kiến thức sách vở) nhưng lại ngu theo nhiều cách khác (thiếu thực tế cuộc sống). Một người có thể rất thông thạo kiến thức sách vở, nhưng lại rất dốt về thực tế cuộc sống vì không thể kiểm soát và nhận thức được cảm xúc, phần này vốn bao gồm trí tuệ xúc cảm.
Chẳng hạn, bạn có thể nghĩ đến một chính trị gia tuyệt vời, truyền cảm hứng và sẵn sàng làm thay đổi thế giới. Thế rồi chẳng hiểu từ đâu xuất hiện một scandal tình dục hay những lời buộc tội tham nhũng. Tay chính trị gia này không thể kiềm chế được cơn thèm tình dục hay lòng tham của ông ta đủ tốt (hay là đủ lâu) hòng đảm bảo một sự nghiệp chính trị thành công.
Đây thực sự là nguồn cảm hứng cho bài viết được đăng lần đầu tiên mở ra khái niệm trí tuệ xúc cảm như chúng ta thừa nhận ngày nay. Peter Salovey, nhà tâm lý học tại ĐH Yale vào thời đó (hiện là Chủ tịch trường Yale) và là nhà nghiên cứu các cảm xúc, ông kết bạn với anh bạn đồng nghiệp John (Jack) Mayer, nhà tâm lý học tại ĐH New Hampshire và là nhà nghiên cứu nhân cách. Hai người là đồng tác giả trong các dự án nghiên cứu liên quan cảm xúc, trí tuệ và nhân cách.
Vào thời đó, cả Peter và Jack đều cùng hy vọng vào một ứng cử viên trẻ tuổi cho ghế tổng thống tên là Gary Hart. Thứ họ nhìn nhận ở anh ta là trẻ trung, tươi tắn và thông minh - rằng anh ta sẽ thắng chắc. Thế rồi một chuyện không thể tin nổi đã xảy ra. Trong các cuộc bầu cử sơ bộ, một phóng viên đã đối mặt Gary Hart và căn cứ theo những lời đồn thổi, tay phóng viên cho rằng anh ta đang ngoại tình. Ngay lập tức anh ta lên tiếng bác bỏ lời cáo buộc, rồi lớn tiếng thách thức toàn bộ các phóng viên xung quanh mình rằng “cứ việc theo dõi tôi đi. Tôi cóc thèm quan tâm. Tôi là người nghiêm túc. Nếu kẻ nào muốn thành cái đuôi của tôi cứ tự nhiên. Rồi họ sẽ phát chán mà thôi.”
Trong vòng 24h, tờ Miami Herald phanh phui câu chuyện tình nổi tiếng hồi đó với Donna Rice với bức ảnh chụp hai người trên boong chiếc du thuyền mang tên Monkey Business.
Trong khi đó, khi nghe tin này Peter và Jack đang sơn nhà cho Jack vào một buổi chiều, và họ cố gắng hiểu tại sao một người thông minh đến thế lại có thể nói và làm thiếu sáng suốt đến thế trong những hoàn cảnh như vậy. Tờ New York Times đã mô tả Hart như “một người đàn ông nghiêm túc và tuyệt vời, có lẽ là bộ óc chính trị nhìn xa trông rộng nhất trong thế hệ của anh ta, một nhà chính khách theo quan điểm cũ mà lâu rồi Washington không còn tạo ra được nữa.” Có thể nào anh ta rất thông minh trong lĩnh vực này (chính sách chính trị) và kém thông minh trong lĩnh vực khác (kiềm chế cảm xúc)?
Cuối cùng họ đồng tình với ý tưởng rằng người ta chắc phải có kiểu thông minh nào đó, mà họ gọi là trí tuệ xúc cảm, hoàn toàn khác biệt so với trí tuệ nhận thức (hoặc IQ) mà ai ai cũng biết đến. Họ lý luận rằng mình có khả năng tìm ra cách nào đó đánh giá trí tuệ này tương tự các thử nghiệm trí tuệ được sử dụng rộng rãi đánh giá IQ.
Peter và Jack phát triển khái niệm thêm nữa rồi ra mắt bài báo có tựa đề “Trí tuệ Xúc cảm,” được đăng trên tờ nhật báo khoa học hồi ấy không mấy tiếng tăm.
Một hôm khi Peter đang say sưa nói về khái niệm mới mẻ này, tay phóng viên tờ New York Times đồng thời là nhà tâm lý học Daniel Goleman ngồi lẫn trong đám khán giả. Nhận thấy tên của buổi nói chuyện rất thú vị, Goleman đã hỏi Peter liệu ông có thể dùng tựa này đặt tên cho cuốn sách mới mình đang viết có liên quan đến cảm xúc được không. Là một quý ông tuyệt vời, Peter đồng ý ngay. Cuốn sách của Goleman có tựa đề Trí tuệ Xúc cảm: Tại sao Nó lại Quan trọng hơn IQ? trở thành tác phẩm best seller với hơn 5 triệu bản bán ra, một kỷ lục trong lĩnh vực tâm lý học.
Sau này Peter và Jack hợp tác với nhà tâm lý học David Caruso phát triển một thử nghiệm khả năng hoặc hiệu suất công việc của trí tuệ xúc cảm, được biết tới với cái tên MSCEIT (Thử nghiệm Trí tuệ Cảm xúc Mayer-Salovery-Caruso). Nhóm của chúng tôi tại MHS đã hợp tác chặt chẽ với các tác giả này trong phát triển và đánh giá thử nghiệm này. Thực ra, tôi đã chụp rất nhiều bức ảnh được sử dụng trong phiên bản gốc. MSCEIT đã trở thành thử nghiệm hiệu suất công việc trí tuệ xúc cảm được nghiên cứu nhiều nhất và sử dụng rộng rãi nhất thế giới.
Định nghĩa của Mayer và Salovey về trí tuệ xúc cảm như sau:
Khả năng nhận thức cảm xúc, tiếp cận và giải phóng cảm xúc hỗ trợ cho suy nghĩ, hiểu được cảm xúc và trí tuệ cảm xúc, biết điều chỉnh cảm xúc tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển về cảm xúc và trí tuệ.
Mô hình MISCEIT bao gồm các nhánh như sau:
Nhận thức cảm xúc: bao gồm khả năng đọc được hết cảm xúc của người khác. Ngoài ra là khả năng thể hiện cảm xúc với người khác một cách chính xác, nhằm thể hiện mình là người giỏi giao tiếp.
Kích hoạt tư duy: hoặc sử dụng cảm xúc, bao gồm sử dụng cảm xúc nhằm thể hiện vả cảm nhận được cảm xúc nhằm truyền tải những cảm xúc của mình, và sử dụng cảm xúc trong các quá trình nhận thức. Điều chúng ta cảm thấy ảnh hưởng quan trọng đến suy nghĩ của chúng ta. Ngoài ra, cảm xúc có thể giúp chúng ta tập trung chú ý và hướng dẫn chúng ta khi giải quyết các vấn đề.
Thấu hiểu cảm xúc: giúp chúng ta sử dụng cảm xúc của mình dự đoán tương lai. Hiểu biết về cảm xúc giúp chúng ta định hướng cuộc đời mình. Nhờ thế chúng ta hiểu tại sao chúng ta lại cảm thấy buồn, giận dữ hay chóng mặt. Chẳng hạn, cảm xúc giận dữ có thể là vì bạn bị kẹt xe vào buổi sáng hay giận dữ vì đồng nghiệp không giúp đỡ bạn trong công việc. Thấu hiểu cơn giận dữ của bạn bắt nguồn từ đâu khiến bạn giải quyết nó dễ dàng hơn.
Hình 3.1. Mô hình MISCEIT của Trí tuệ Xúc cảm

Nguồn: In lại với sự cho phép của MHS,2005.
Mô hình MISCEIT được thể hiện trong sơ đồ trên Hình 3.1.
MISCEIT liên quan đến Lãnh đạo như thế nào?
Lãnh đạo là một lĩnh vực mà ngày càng có nhiều nghiên cứu tìm kiếm các mối liên kết tới trí tuệ xúc cảm. Tại Australia, David Rosete tại trường ĐH Wollongong đã triển khai một nghiên cứu giúp rọi thêm chút ánh sáng vào lãnh vực này. Nghiên cứu của ông tập trung vào mức độ trí tuệ cảm xúc dự đoán hiệu suất công việc lãnh đạo ngoài các biện pháp đánh giá như tư cách, lý luận hoặc trí tuệ nhận thức (IQ) truyền thống.
Ông đã thử nghiệm nhân cách, IQ và sử dụng cả MSCEIT với 117 giám đốc điều hành của một tổ chức dịch vụ công lớn tại Australia. Ngoài ra ông thu thập các đánh giá về tính hiệu quả của lãnh đạo từ các phiên thảo luận phản hồi hàng năm của các giám đốc với giám sát. Nói chung, những đánh giá này được rút gọn thành hai lĩnh vực chính: (1) Kết quả đạt được và (2) đạt được như thế nào. Phần đánh giá đầu tiên tập trung vào các kết quả đáng mong muốn và có thể đánh giá được. Phần thứ hai tập trung vào những gì lãnh đạo đã làm để đạt được kết quả đó.
David phát hiện các yếu tố nhân cách chẳng liên quan gì đến đánh giá hiệu suất công việc của giám đốc. Tuy nhiên, ông thấy MSCEIT cho thấy vài mối quan hệ thú vị với hiệu suất công việc. Điểm tổng quát của MSCEIT có mối liên quan chặt chẽ đến tiêu chí “đạt được cái gì” và “đạt được như thế nào”.
Trong khi có thể mọi người không thích, trong tất cả các tiêu chí đã sử dụng, MSCEIT là công cụ dự đoán tốt nhất “thành tích” thu được, chiếm 5% biến số và vượt xa hai tiêu chí nhân cách với chỉ số IQ. Về nội dung đánh giá “đạt được như thế nào”, tiêu chí nhân cách không quan trọng. Khả năng nhận thức chính xác cảm xúc chiếm 18% biến số trong thang điểm “đạt được như thế nào”, ngoài ra, toàn bộ MSCEIT chiếm 22% biến số trong các thang điểm tương tự. Trái với niềm tin của mọi người, điểm tổng quát IQ không ảnh hưởng đến thang điểm “cách” làm việc. Những phát hiện này xác nhận vai trò của năng lực trí tuệ xúc cảm giữa các lãnh đạo.
Một khía cạnh quan trọng của lãnh đạo bao gồm năng lực động viên người khác. Phát triển một tuyên bố về tầm nhìn hiệu quả là phần quan trọng trong quá trình này. Một nghiên cứu do Stéphane Côté, Peter Lopes và Peter Salovey thực hiện với đối tượng nghiên cứu là 137 phụ nữ và nam giới, tập trung vào các ảnh hưởng tương đối của nhân cách và trí tuệ xúc cảm lên các tuyên bố tầm nhìn. Theo đánh giá của MSCEIT, các mức độ trí tuệ xúc cảm càng lớn các tuyên bố tầm nhìn đi kèm càng có chất lượng cao hơn và vượt xa nhân cách của ai đó.
Trí tuệ xúc cảm của lãnh đạo đối với cấp dưới trong tổ chức quan trọng đến thế nào? Trong một nghiên cứu do trường ĐH New South Wales tại Australia tiến hành tập trung vào hai nhóm giám đốc nhỏ (mỗi nhóm 13 người từ các tổ chức nhà nước và tư nhân) cùng 108 cấp dưới của họ. S.Giles phát hiện mối quan hệ đáng kể giữa cam kết với tổ chức của nhân viên và trí tuệ xúc cảm của giám đốc. Nói cách khác, nhân viên càng cam kết với tổ chức của mình nếu mức độ trí tuệ xúc cảm của giám đốc càng cao. Năng lực quản lý và thấu hiểu cảm xúc nhân viên của giám đốc là năng lực có ảnh hưởng lớn nhất lên cam kết của nhân viên.
Có nhiều nghiên cứu tập trung vào tầm quan trọng tương đối của IQ, EQ và các yếu tố khác trong thành công của lãnh đạo. Tôi sẽ trình bày thêm một nghiên cứu nữa trong lĩnh vực này. Do W. Lee. Turner tại trường ĐH Northcentral, Trường Kinh doanh và Quản trị Công nghệ tiến hành.
Turner bắt đầu bài nhận xét của ông bằng cách chỉ ra xu hướng sử dụng “các biện pháp đã lạc hậu nhằm xác định tiềm năng lãnh đạo” trong khu vực kinh tế nhà nước của Mỹ. Ông báo cáo rằng các tiêu chí IQ từng được sử dụng trong lĩnh vực này từ 60 năm trước.
Ông xem xét mối quan hệ giữa trí tuệ xúc cảm, IQ và hiệu suất công việc của lãnh đạo. Năm mươi hai giám đốc từ cấp cao nhất đến cấp ba trong khu vực kinh tế nhà nước tại Hanford, California, đã tham gia các thử nghiệm MSCEIT và Wonderlic IQ, với tiêu chí năng lực nhận thức. Nhằm đánh giá hiệu suất công việc của lãnh đạo hai thông tin được xem xét. Thứ nhất là chỉ số tiến độ thực hiện - mức giá trị bạn đầu tư vào dự án, và thứ hai là chỉ số chi phí thực hiện - giá trị công việc bạn hoàn thành so với chi phí thực của dự án.
Thứ ông tìm thấy là mối tương quan tích cực đáng kể giữa trí tuệ xúc cảm và tiến độ thực hiện. Ngoài ra, giữa chỉ số cảm xúc và tiến độ thực hiện tồn tại mối tương quan tiêu cực đáng kể. Nói cách khác, trí tuệ xúc cảm của bạn càng cao và IQ của bạn càng thấp, bạn càng có thể đạt được chỉ số thực tế tốt hơn nữa. Về chỉ số chi phí thực hiện, xuất hiện mối tương quan tích cực với trí tuệ xúc cảm và chẳng có mối tương quan nào với chỉ số cảm xúc. Như vậy, trong nghiên cứu này trí tuệ xúc cảm là công cụ dự đoán hiệu suất công việc của lãnh đạo tốt hơn hẳn IQ. Điều quan trọng cần lưu ý là nghiên cứu này tập trung vào các kết quả thực tế của dân số lao động (trái ngược với sinh viên); do đó, chúng ta có thể tự tin cho rằng các kết quả có thể mang áp dụng được với các dân số lao động khác.
Báo cáo Tự thuật về Trí tuệ Xúc cảm
Trong khi đó, từ hồi năm 1985, một nhà tâm lý học khác tên là Reuven Bar-On đã hoàn tất luận văn tiến sĩ của ông, trong đó ông phát triển một thử nghiệm sẽ đánh giá chỉ số cảm xúc của con người hay còn gọi là EQ, giống hệt các thử nghiệm trí tuệ đánh giá IQ hay chỉ số trí tuệ. Ông từng tham gia quân ngũ và tiến hành thử nghiệm tâm lý trên quân nhân theo cách truyền thống. Ông để ý các thử nghiệm truyền thống - nhân cách, IQ - dường như không dự đoán được ai hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ và ai thì không. Có vài người có IQ cao không thể sống sót lâu trên chiến trường, trong khi những người khác có IQ thấp lại là những chiến binh xuất sắc. Vì bài luận văn tiến sĩ, ông đã nghiên cứu và tạo ra một công cụ trong nỗ lực đánh giá các ưu điểm cảm xúc giúp dự đoán tốt hơn chỉ số thực hiện và ý chí kiên cường. Ông định nghĩ trí tuệ xúc cảm là “một danh sách các năng lực, chuyên môn và kỹ năng phi nhận thức ảnh hưởng đến khả năng thành công của ai đó khi đương đầu với các yêu cầu và sức ép của môi trường.” Công cụ này có tên là Băng kiểm Chỉ số Cảm xúc hoặc EQ-i.
Đội ngũ tại MHS đã làm việc với đánh giá này và sửa đổi nó căn cứ vào nghiên cứu đang tiến hành. Phiên bản hiện tại được xem là EQ-i 2.0 từng được sử dụng trong nhiều bối cảnh công việc trên thế giới. Xấp xỉ 2 triệu người đã tham gia thử nghiệm với EQ-i và EQ-i 2.0 khắp toàn cầu.
Như được hiển thị trong Hình 3.2, mô hình được phân chia thành năm lĩnh vực chung và 15 thước đo cụ thể. Mục Báo cáo Tự thuật liên quan đến khả năng bạn hiểu biết và tự kiểm soát bản thân. Nó bao gồm Tự Nhận thức Cảm xúc - năng lực nhận ra bạn đang cảm thấy như thế nào và lý do tại sao bạn lại cảm thấy như thế, và ảnh hưởng của cảm xúc lên những suy nghĩ và hành động của bản thân bạn và người khác. Tự trọng - năng lực nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, có cảm xúc tích cực về bản thân bất chấp những khuyết điểm; và Hiện Thực hóa Cái Tôi - năng lực không ngừng cố gắng hoàn thiện bản thân và theo đuổi những mục tiêu có ý nghĩa dẫn dắt bạn đến cuộc sống giàu có hơn.
Mục Tự Thể hiện Bản thân liên quan đến cách bạn đối mặt với thế giới. Bao gồm Thể hiện Cảm xúc - năng lực thể hiện cảm xúc của bạn bằng cả lời nói và hành động; Quyết đoán - năng lực thể hiện rõ ràng các suy nghĩ và niềm tin của mình, bảo vệ quan điểm của mình và bảo vệ một cách có xây dựng; Độc lập - năng lực tự định hướng và tự kiểm soát bản thân, tự lập và đứng vững trên đôi chân mỉnh.
Mục Liên kết Cá nhân liên quan đến “kỹ năng con người” của bạn - năng lực tương tác và giao tiếp với người khác, bao gồm ba thước đo. Quan hệ Liên kết Cá nhân tức là năng lực thiết lập và duy trì các quan hệ hai bên cùng có lợi, được đánh dấu bằng quan hệ cho-và-nhận trên cơ sở niềm tin và lòng trắc ẩn. Thấu cảm là năng lực nhận ra, thấu hiểu và trân trọng những gì người khác có thể cảm thấy hoặc nghĩ đến. Đó là năng lực nhìn nhận thế giới này qua con mắt của người khác. Trách nhiệm Xã hội là khả năng trở thành thành viên hợp tác và cống hiến trong nhóm bạn bè của bạn nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Hình 3.2. Băng kiểm Chỉ số Cảm xúc 2.0 (EQ-i 2.0)

Nguồn: Được in lại với sự cho phép của Multi-Health Systems (2011, dựa trên Băng kiểm Chỉ số Cảm xúc EQ-i của Reuven Bar-On, 1997)
Mục Ra Quyết định bao gồm năng lực sử dụng cảm xúc của bạn một cách tốt nhất nhằm giúp bạn giải quyết các vấn đề và đưa ra lựa chọn tối ưu. Ba thước đo của mục này là Kiểm soát Cơn bốc đồng - năng lực cưỡng lại hoặc làm dịu ham muốn có hành động lỗ mãng, thiếu suy nghĩ; Trải nghiệm Thực tế - năng lực nhìn nhận sự vật, sự việc đúng bản chất của chúng, hơn là nhìn nhận theo ý bạn muốn hoặc sợ rằng có thể nó sẽ diễn ra như thế; và Giải quyết Vấn đề - năng lực tìm ra các giải pháp cho vấn đề có liên quan đến cảm xúc, sử dụng đúng cảm xúc ở giá trị tối ưu.
Mục Kiểm soát Stress liên quan đến năng lực linh hoạt, khả năng chịu đựng stress và có quan điểm tích cực. Ba thước đo của mục này gồm Linh hoạt - năng lực điều chỉnh các cảm xúc, suy nghĩ và hành động của bạn trong những điều kiện thay đổi, thách thức và không quen thuộc; Khả năng Chịu đựng Stress - năng lực giữ bình tĩnh và tập trung, chịu đựng tích cực trước những sự kiện éo le và những cảm xúc xung đột mà không nhượng bộ; và Lạc quan - năng lực duy trì một thái độ lạc quan thực tế, đặc biệt khi đối mặt với nghịch cảnh.
Ngoài ra còn một chỉ số độc lập Hạnh phúc của bạn. Hạnh phúc là năng lực cảm thấy hài lòng với cuộc sống, hài lòng với bản thân và với người khác, thể hiện niềm thích thú và sự nhiệt tình trong phạm vi các hoạt động.
Các Mô hình Khác
MSCEIT và EQ-i là hai mô hình gốc của trí tuệ xúc cảm. Kể từ đó đã xuất hiện nhiều mô hình bổ sung, phần lớn là những biến thể của hai mô hình này. Nếu bạn muốn một lời giải thích đơn giản trí tuệ xúc cảm là gì, gần như tất cả các mô hình khác đều chia sẻ ba thành phần này:
1. Năng lực nhận diện thông tin cảm xúc ở bản thân và ở người khác.
2. Năng lực kiểm soát thông tin cảm xúc ở bản thân và ở người khác.
3. Năng lực tập trung năng lượng cảm xúc với những hành vi cần thiết để hoàn thành mọi việc.
Trí tuệ Xúc cảm Tự thuật có Hợp lệ Không?
Vài người vẫn tiếp tục thắc mắc rằng trí tuệ xúc cảm tự thuật có thể đóng góp gì vào chỉ số thực hiện của lãnh đạo vượt xa IQ và nhân cách. Thứ nhất, hãy cùng làm rõ những ngộ nhận về các thử nghiệm tự thuật. Các công cụ tự thuật chất lượng cao phải mất nhiều năm phát triển vì chúng phải trải qua những tiêu chuẩn thử nghiệm nghiêm ngặt do Hiệp hội Tâm lý học Mỹ đề ra. Họ yêu cầu phải tập hợp các mẫu dân cư quy chuẩn đủ sức đại diện để thử nghiệm, rồi thử nghiệm độ tin cậy mở rộng, thử nghiệm hiệu lực và nhiều nữa. Ngoài ra là các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức xung quanh việc tiến hành thử nghiệm tâm lý tại nơi làm việc. Tất nhiên, nếu bạn tìm kiếm trên Internet thì có thể tìm thấy vài thử nghiệm EQ được phát triển lén lút với độ chính xác phải đặt dấu hỏi.
Vài người thắc mắc ngay chính bản chất của thử nghiệm trí tuệ xúc cảm tự thuật. Họ bảo rằng nếu ai đó không nhận thức được bản thân chẳng hạn, thì làm sao họ có thể phản ứng với các mục liên quan đến nhận thức? Thêm nữa nếu bạn hỏi mọi người họ có trí tuệ xúc cảm không thì chẳng phải 95% số người được hỏi sẽ trả lời có hay sao? Rốt cuộc, các nghiên cứu với IQ cho thấy 87% (trong trường hợp này là các sinh viên Stanford MBA) tự đánh giá mình còn thông minh trên mức trung bình khi được đề nghị tự đánh giá trí tuệ bản thân. Tất nhiên, theo định nghĩa, 87% người không thể đứng trên đầu tất cả nếu 50% trên trung bình và 50% dưới trung bình. Chúng ta sẽ tập trung vào độ tin cậy của trí tuệ xúc cảm tự thuật ở Chương 5.
Tâm lý học có một lịch sử dài phát triển các thử nghiệm tự thuật, lành mạnh về mặt tâm lý trắc học. Như đã nói, Binet đã đo IQ bằng thử nghiệm IQ được chuẩn hóa đầu tiên. Tuy nhiên thử nghiệm bệnh học tâm lý đầu tiên, MMPI, được Starke Hathaway và Charles McKinley phát triển vào năm 1939. Đây vẫn là thử nghiệm nhân cách và bệnh học tâm lý chuẩn hóa được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi nhất đến tận ngày nay. Thử nghiệm được thiết kế nhằm đánh giá các chứng rối loạn như trầm cảm, hồi hộp và chứng tâm thần phân liệt. Bạn có thể hỏi rằng liệu một người bị tâm thần phân liệt có tự đánh giá bản thân trong một thử nghiệm tự thuật được không? Chẳng phải họ sẽ nói rằng: “Tôi không bị tâm thần phân liệt” là xong sao? Nó đã thành công trong suốt hơn 70 năm và dường như không hề xuất hiện tranh cãi nào xung quanh nó.
Câu trả lời rất đơn giản. Bạn không thể cứ khơi khơi hỏi người ta có trí tuệ xúc cảm không hệt như bạn không thể hỏi người ta có bị tâm thần phân liệt không. Mấu chốt là phát triển một số hạng mục gián tiếp, không rõ ràng hoặc tinh tế phản ánh cái cách mà những người bị tâm thần phân liệt (hoặc người có EQ cao) trả lời các hạng mục này khác với dân số nói chung. Có phải là một nhiệm vụ đơn giản không? Không, nhưng đó là thứ khiến các thử nghiệm có giá trị cao, giống như MMPI và EQ-i 2.0 khác biệt so với phần còn lại.
Trí tuệ Xúc cảm Tự thuật, IQ, Nhân cách và Chỉ số Thực hiện
Trong khi vẫn còn nhiều tranh cãi trong giới hàn lâm về điều gì thực sự tạo nên trí tuệ xúc cảm, hoặc nó được định nghĩa như thế nào, có vẻ đang ngày càng có nhiều người đồng tình với năng lực dự đoán của nhiều mô hình trí tuệ xúc cảm. Chẳng hạn, trong một nhận xét gần đây nói về toàn bộ nghiên cứu gần đây liên quan từ hiệu suất công việc đến IQ, nhân cách và trí tuệ xúc cảm. Dana Joseph và các đồng nghiệp chỉ ra rằng “các nhận xét thực tiễn gần đây cho rằng có mối quan hệ mạnh mẽ đến ngạc nhiên giữa hiệu suất công việc với trí tuệ xúc cảm tự thuật (còn được các nhà hàn lâm gọi chung là EI tiêu biểu hoặc EI pha trộn), gợi ý EI pha trộn/tự thuật là một trong các hiệu suất công việc được biết đến nhiều nhất. Các kết quả còn cho thấy thêm rằng EI có thể dự đoán chuẩn xác hiệu suất công việc vượt xa năng lực nhận thức và nhóm Thang Tính cách Big Five11.
Trong bài nhận xét của họ, có bao gồm hàng trăm nghiên cứu, trí tuệ xúc cảm chiếm 22% biến số của hiệu suất công việc trong khi trí tuệ nhận thức chiếm khoảng 19% biến số tương tự. Trong khi mức chênh lệch là không nhiều lắm, nhưng trong khi thực hành các tác động của nó có thể rất đáng kể.
Tạm gạt các nhà hàn lâm sang một bên, còn các nhà tuyển dụng trên khắp thế giới này họ phải nói gì về trí tuệ xúc cảm? Gần đây đã có nhiều khảo sát thú vị về tầm quan trọng của người có trí tuệ xúc cảm tại nơi làm việc. Theo báo cáo của Future of Jobs tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, những năm gần đây đang ngày càng có nhiều nhận thức rằng trí tuệ xúc cảm là một kỹ năng làm việc quan trọng, trong một số trường hợp còn vượt trội hơn hẳn năng lực kỹ thuật. Báo cáo cho biết rằng “Xét toàn diện, các kỹ năng xã hội - như thuyết phục, trí tuệ xúc cảm và truyền thụ cho người khác - sẽ có nhu cầu trong nhiều ngành cao hơn các kỹ năng kỹ thuật ngành hẹp như lập trình, vận hành và kiểm soát thiết bị.”
Trong một Khảo sát Career Builder năm 2011 với hơn 2.600 giám đốc tuyển dụng và các nhà chuyên môn về nguồn nhân lực, 71% cho rằng họ đánh giá cao trí tuệ xúc cảm ở nhân viên cao hơn IQ; 75% cho rằng họ có nhiều khả năng sẽ đề bạt nhiều hơn công nhân có trí tuệ xúc cảm cao so với công nhân chỉ có IQ cao; và 59% cho rằng họ sẽ từ chối tuyền dụng nhân viên có IQ cao nhưng trí tuệ xúc cảm thấp.
Tầm quan trọng của trí tuệ xúc cảm tại nơi làm việc đang ngày càng được các nhà tuyển dụng để ý đến nhiều hơn trên khắp toàn cầu.
|
EQ Lãnh đạo: Những điều cần biết |
|
1. Nghĩ về vài cấp trên bạn đã làm việc cùng, ở nơi làm việc trong hiện tại hoặc trong quá khứ. Có phải họ có được vị trí này chủ yếu vì năng lực kỹ thuật, trí tuệ nói chung hay vì kỹ năng con người? |
|
2. Bạn nghĩ rằng sự kết hợp nào của bốn kỹ năng/năng lực sau đây - kỹ thuật, IQ, nhân cách, xúc cảm - sẽ là phù hợp nhất đối với một lãnh đạo trong ngành của mình? |
|
3. Với các năng lực và kỹ năng xúc cảm khác nhau được mô tả trong chương này, theo bạn cái nào là quan trọng nhất đối với lãnh đạo? |
|
4. Trong các kỹ năng được mô tả bạn hãy nêu rõ đâu là các kỹ năng xúc cảm mạnh mẽ nhất của mình? |
|
5. Hãy hỏi một thành viên gia đình bạn xem họ nghĩ kỹ năng xúc cảm mạnh mẽ nhất của bạn là kỹ năng nào? |
|
6. Hãy hỏi một người đồng nghiệp của bạn xem anh ta/cô ta nghĩ kỹ năng xúc cảm mạnh mẽ nhất của bạn là kỹ năng nào? |
|
7. Nếu bạn có thể chọn ra ba trong số các kỹ năng xúc cảm được định nghĩa trong chuwong này để phát triển, bạn sẽ chọn các kỹ năng nào? |
|
8. Bạn sẽ bắt đầu phát triển các kỹ năng này như thế nào? |
1 1 Nhiều đặc điểm tích cách có điểm chung nên sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã tổng kết các đặc điểm tính cách và chia thành 5 mặt tính cách chủ yếu, được gọi là Big Five dimensions of personality(gọi tắt là Big Five). Đây cũng là một trong những thang đo tính cách đơn giản, phổ biến và được ứng dụng rộng rãi nhất hiện nay