Đắc Nhân Tâm

Chương 4: 2. Bí mật lớn trong đối nhân xử thế

Số chữ: 5334

2. Bí mật lớn trong đối nhân xử thế

Dưới gầm trời này chỉ có một cách duy nhất để khiến người ta làm bất kỳ điều gì. Bạn có bao giờ dừng lại để nghĩ về điều đó không? Đúng, chỉ có một cách thôi. Đó là làm sao khiến người ta muốn làm điều đó.

Hãy nhớ chẳng còn cách nào khác đâu.

Dĩ nhiên, bạn có thể bắt người ta cho bạn cái đồng hồ bằng cách dí súng vào đầu họ. Bạn có thể khiến các nhân viên hợp tác với mình - cho đến khi bạn quay lưng lại - bằng cách đe dọa sa thải họ. Bạn có thể buộc một đứa trẻ làm bất kỳ điều gì mình muốn bằng roi hoặc đe dọa. Nhưng các biện pháp này thường để lại những hậu quả không tốt.

Cách duy nhất để tôi khiến bạn làm bất kỳ điều gì đó là cho bạn thứ bạn muốn.

Bạn muốn gì?

Sigmund Freud đã từng nói rằng động lực thôi thúc bạn và tôi làm điều gì đó là ham muốn tình dục và mong ước trở nên vĩ đại.

John Dewey, một trong những nhà triết học trứ danh nhất nước Mỹ, diễn tả có hơi khác một chút. Tiến sĩ Dewey nói rằng khao khát sâu thẳm nhất trong bản chất người đó là “khao khát trở thành người quan trọng”. Hãy nhớ câu nói ấy: “Khao khát trở thành người quan trọng”. Nó rất quan trọng đấy. Bạn sắp được nghe điều đó rất nhiều trong cuốn sách này.

Bạn muốn gì? Không nhiều, chỉ vài thứ bạn thực sự mong muốn, thực sự khao khát mà không ai phủ nhận. Vài thứ hầu hết mọi người đều muốn bao gồm:

1. Sức khỏe và cuộc sống trường thọ

2. Đồ ăn

3. Giấc ngủ

4. Tiền và những thứ tiền có thể mua được

5. Cuộc sống ở kiếp sau

6. Thỏa mãn về tình dục

7. Con cái thành đạt

8. Cảm giác mình là người quan trọng

Tất cả những mong muốn này thông thường bạn đều đạt được - tất cả, ngoại trừ một mong muốn. Đúng vậy. Có một ham muốn - cũng gần sâu sắc, cấp thiết và cũng đáng khao khát như đồ ăn hay giấc ngủ - nhưng hiếm khi đạt được. Như Freud nói đó là “ham muốn trở nên vĩ đại”. Và như Dewey gọi là “cảm giác mình là người quan trọng”.

Lincoln từng mở đầu một lá thư rằng: “Ai cũng thích được khen”. William James nói: “Nguyên tắc sâu sắc nhất của bản chất con người là thèm khát được đánh giá cao”. Nhắc bạn nhớ, ông ta không nói đến “ước muốn” hoặc “ao ước” hoặc “mong mỏi” được đánh giá cao. Mà ông nói “thèm khát” được đánh giá cao.

Đây là nỗi thèm khát của con người day dứt và mạnh mẽ nhất, một cá nhân hiếm hoi chân thành thỏa mãn cơn thèm khát này chỉ bằng cách ôm lấy mọi người, “và thậm chí người làm dịch vụ lễ tang cũng buồn khi anh ta chết”.

Mong muốn trở thành người quan trọng là một trong những sự khác biệt chính giữa con người và con vật. Để minh họa: Khi tôi còn là thằng bé ở nông trại tại Missouri, cha tôi có nuôi mấy con lợn Duroc xinh đẹp cùng đàn bò mặt trắng được chọn lựa kỹ lưỡng. Chúng tôi thường xuyên đem lũ lợn và bầy gia súc này ra khoe tại các phiên chợ nông thôn, các cuộc thi vật nuôi khắp vùng Middle West. Chúng tôi giành được bao nhiêu giải nhất. Cha tôi ghim các dải băng đô xanh lên trên một mảnh vải muslin trắng, khi có bạn bè hoặc du khách đến thăm, ông sẽ trải tấm vải này ra bàn. Mỗi tay ông cầm một miếng băng đô xanh để khoe.

Lũ lợn thì chẳng quan tâm gì đến mấy cái băng đô xanh chúng giành được. Nhưng Cha tôi thì có. Những giải thưởng này cho ông cảm giác mình là người quan trọng.

Nếu tổ tiên chúng ta không có ham muốn bùng cháy cảm giác mình là người quan trọng, hẳn chúng ta sẽ chẳng được hưởng nền văn minh. Nếu không có nền văn minh, chúng ta có lẽ chẳng khác gì lũ súc vật.

Chính nhờ khao khát cảm giác mình là người quan trọng gợi cảm hứng cho Dickens sáng tác các tiểu thuyết bất tử của ông. Sir Christopher Wren cũng được gợi cảm hứng thiết kế các bản nhạc giao hưởng trong đá. Cảm hứng này khiến Rockefeller tích lũy được hàng triệu USD mà ông không bao giờ tiêu! Và cảm hứng tương tự khiến gia đình giàu nhất thành phố của bạn xây ngôi nhà to vật vã mà chẳng mấy ai ở.

Khao khát này khiến bạn muốn mặc lên người những bộ đồ phong cách mới nhất, lái những chiếc xe xịn nhất, và nói về những đứa con tuyệt vời của mình.

Cũng khao khát này quyến rũ biết bao đứa thanh niên tuổi teen gia nhập các băng nhóm, tham gia các hoạt động tội phạm. Theo lời E.P. Mulroonev, từng một thời là ủy viên cảnh sát của New York, tên tội phạm khá trẻ tuổi lòng chứa đầy bản ngã, sau khi bị bắt, đã đề nghị ông gửi ngay đến những tờ báo rẻ tiền xem hắn là anh hùng. Triển vọng thụ án dường như bằng không, chừng nào hắn còn thèm muốn được chung sân với những ngôi sao thể thao, ngôi sao điện ảnh, truyền hình và các chính trị gia.

Nếu bạn nói cho tôi nghe cách bạn làm sao có được cảm giác mình là người quan trọng, tôi sẽ nói bạn là ai. Điều đó quyết định tư cách của bạn. Đó là điều quan trọng nhất về bạn. Chẳng hạn, John D. Rockefeller có được cảm giác mình là người quan trọng khi quyên tiền xây dựng một bệnh viện hiện đại tại Bắc Kinh, Trung Quốc để chăm sóc cho hàng triệu người nghèo khổ mà ông chưa từng gặp và sẽ chẳng bao giờ gặp. Mặt khác, Dillinger được hưởng cảm giác này khi trở thành kẻ cướp, đi cướp ngân hàng và giết người. Khi bị các đặc vụ FBI săn đuổi, hấn lao bừa vào một ngôi nhà của nông dân tại Minnesota và nói, “Tao là Dillinger!”. Hắn rất tự hào bởi thực tế rằng hắn là Kẻ thù Số 1 của Nhà nước. “Tao sẽ không làm chúng mày bị thương, nhưng tao là Dillinger!”, hắn nói.

Phải, sự khác biệt căn bản giữa Rockefeller và Dillinger là ở cách họ được hưởng cảm giác mình là người quan trọng.

Lịch sử sáng long lanh các ví dụ thú vị về những người nổi tiếng cố gắng được hưởng cảm giác mình là người quan trọng. Ngay cả George Washington cũng muốn được gọi là “Thưa Tổng thống Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ hùng mạnh”; và Columbus đã van xin được phong tước “Đô đốc Đại dương và Tổng trấn Ấn Độ”. Nữ Hoàng Catherine I từng không chịu mở thư nếu không đề rõ “Nữ hoàng Tôn quý”; và Lincoln phu nhân trong Nhà Trắng từng chửi rủa Grant phu nhân là mụ hổ cái và quát lên, “Sao bà dám ngồi vào chỗ của tôi khi chưa được mời hả?”.

Các triệu phú của chúng ta đã tài trợ tiền cho chuyến đi thám hiểm Antartic năm 1928 của Đô đốc Byrd, khi hiểu rõ rằng các dãy núi băng sẽ được đặt theo tên mình; và Victor Hugo chẳng khao khát gì hơn ngoài tên ông được đặt cho một thành phố tại Paris để vinh danh. Thậm chí Shakespeare, người mạnh mẽ nhất trong những người mạnh mẽ, cũng cố gắng đánh bóng tên tuổi khi bỏ tiền mua hai huy hiệu quý tộc cho gia đình mình.

Con người ta đôi khi không thể giành được sự cảm thông, chú ý hay trải qua cảm giác mình là người quan trọng. Chẳng hạn như phu nhân McKinley. Bà trải qua cảm giác mình là người quan trọng khi bắt ép chồng bà, Tổng thống Mỹ, làm ngơ hết các vấn đề quan trọng của đất nước trong khi ngồi dựa trên giường bên cạnh bà suốt mấy giờ đồng hồ, cánh tay ông ôm lấy bà và hát ru bà ngủ. Trong nỗi thèm khát được chú ý đến day dứt, bà khăng khăng đòi chồng ở lại bên cạnh mình trong khi đang chữa răng, nhưng có lần bà nổi cơn thịnh nộ khi ông bỏ bà một mình với nha sĩ vì có cuộc hẹn với Ngoại trưởng John Hay.

Nhà văn Mary Roberts Rinehart từng kể tôi nghe về một thiếu nữ sáng ngời, mạnh mẽ từng không được trải qua cảm giác mình là người quan trọng. Bà kể, “Một hôm, người thiếu nữ này buộc phải đối mặt với một chuyện gì đó, có lẽ là tuổi tác của cô ta. Những năm tháng cô độc đang trải dài phía trước và cuộc đời cô ta hầu như chẳng còn gì để mong chờ.

Mẹ dìu cô ta về giường ngủ; suốt mười năm bà mẹ già ấy cứ lên rồi xuống tầng ba liên tục, cơm bưng nước rót, chăm sóc cô ta. Cứ thế đến một ngày vì quá mệt mỏi vì phải chăm con gái, bà mẹ già ấy ngã gục xuống chết. Trong nhiều tuần, cô ta không còn suy sụp nữa; cô ta đứng dậy, mặc quần áo đẹp rồi lại tiếp tục cuộc sống như cũ”.

Vài chuyên gia tuyên bố rằng, trong xứ sở mộng mơ của sự ngớ ngẩn, con người ta có thể thực sự ngớ ngẩn khi tìm kiếm cảm giác mình là người quan trọng, cái cảm giác họ từng bị chối bỏ trong thế giới thực tế. Tại Mỹ số lượng người mắc bệnh tâm thần nhiều hơn bất kỳ căn bệnh nào khác kết hợp lại.

Vậy nguyên nhân gây ngớ ngẩn là gì?

Chẳng ai có thể trả lời câu hỏi bao hàm quá rộng này, nhưng chúng ta biết rằng những căn bệnh nhất định, như giang mai, đột quỵ và hủy diệt các tế bào não bộ sẽ gây ra ngớ ngẩn. Thực ra, khoảng một nửa trong tất cả các bệnh tâm thần có thể do những tác nhân gây hại cho thể chất như những chấn thương não, cồn, các chất độc và các chấn thương. Tuy nhiên nửa còn lại - và đây là phần đáng sợ nhất của câu chuyện - phân nửa những người bị tâm thần còn lại, về mặt hữu cơ, các tế bào não của họ chẳng có vấn đề gì cả. Trong các cuộc khám nghiệm tử thi, khi các mô não được nghiên cứu dưới kính hiển vi có công suất mạnh nhất, kết quả cho thấy các mô nào hoàn toàn khỏe mạnh như mô não của bạn và tôi.

Thế thì tại sao những người này ngớ ngẩn?

Tôi mang câu hỏi này đến gặp một bác sỹ hàng đầu của một trong các bệnh viện tâm thần quan trọng nhất của chúng tôi. Vị bác sỹ từng nhận các bằng danh dự cấp cao nhất và những giải thưởng đáng thèm muốn nhất vì kiến thức trong chuyên ngành này, nói thẳng với tôi rằng ông ta chẳng hiểu tại sao con người trở nên ngớ ngẩn. Chẳng ai biết chắc được cả. Nhưng ông ta nói rằng nhiều người bị ngớ ngẩn lại thấy trong cái ngớ ngẩn ấy cảm giác mình là người quan trọng, một thứ mà họ vốn không thể tìm thấy được trong thế giới thực. Thế rồi ông kể tôi nghe một câu chuyện:

“Ngay lúc này tôi có một bệnh nhân với cuộc hôn nhân bị xem là bi kịch. Cô ấy muốn được yêu, muốn được thảo mãn về tình dục, muốn có con cái, và có uy tín trong xã hội, nhưng cuộc đời đã phá hỏng hết các hy vọng của cô ấy. Chồng cô ấy chẳng yêu thương gì cô ấy. Thậm chí anh ta còn chẳng thèm ăn cùng cô ấy, và ép cô ấy phải phục vụ bữa ăn cho mình ở trên gác. Cô ấy không có con cái, không có vị thế trong xã hội. Cô ấy đâm ra bị ngớ ngẩn; và trong cõi mộng tưởng ấy, cô ấy đã ly dị chồng và được dùng lại cái tên thời con gái của mình. Lúc này cô ấy tin rằng mình đã kết hôn với một nhà quý tộc người Anh, và cô ta khăng khăng bắt người khác phải gọi mình là Bà Smith.

“Còn về chuyện con cái, cô ấy tưởng tượng rằng cứ mỗi đêm trôi qua cô ấy có một đứa con. Mỗi lần tôi ghé qua thăm bệnh cô ấy đều nói: “Bác sỹ à, đêm qua em vừa sinh con”.

Cuộc sống từng phá hủy từng chiếc thuyền mộng mơ của cô ấy bằng những tảng đá sắc nhọn của thực tế; nhưng trong các ốc đảo nhỏ ngớ ngẩn ngập nắng ấy, toàn bộ con thuyền của cô ấy kiêu hãnh lao vào cảng với những cánh buồm căng gió, mặt biển khắp xung quanh như đang hát vang.

Bi kịch ư? Ôi, tôi nào biết. Bác sỹ của cô ấy nói với tôi: “Nếu tôi có thể vươn tay ra mà chữa khỏi được chứng ngớ ngẩn cho cô ấy, tôi sẽ không làm. Cứ ngớ ngẩn thế này, cô ấy sẽ hạnh phúc hơn nhiều”.

Nếu vài người thèm khát trải qua cảm giác mình là người quan trọng đến mức sẵn sàng thành người ngớ ngẩn, hãy tưởng tượng xem điều kỳ diệu gì tôi và bạn có thể đạt tới chỉ bằng cách đánh giá thật chân thành khía cạnh ngớ ngẩn này.

Một trong những người đầu tiên làm kinh doanh tại Mỹ được trả lương hơn 1 triệu USD/năm (khi không chịu thuế thu nhập cá nhân và người này kiếm được 50 USD/tuần được xem là khá giả) là Charles Schwab. Anh ta được Andrew Carnegie lựa chọn làm chủ tịch đầu tiên của Công ty Thép Mỹ mới thành lập năm 1921, khi Schwab mới chỉ ba mươi tám tuổi. (Về sau này Schwab rời khỏi Công ty Thép Mỹ để tiếp quản Công ty Thép Bethlehem hồi đó đang ngập trong rắc rối, anh ta đã tái sinh lại công ty này thành một trong những công ty có lợi nhuận cao nhất nước Mỹ.)

Tại sao Andrew Carnegie lại trả 1 triệu USD/năm, hoặc hơn 3.000 USD/ngày cho Charles Schwab? Tại sao? Vì Schwab là một thiên tài sao? Không. Bởi vì anh ta hiểu biết về việc sản xuất thép nhiều hơn những người khác? Vớ vẩn. Đích thân Charles Schwab bảo tôi rằng dưới trướng anh ta còn nhiều người hiểu biết hơn anh ta về sản xuất thép.

Schwab nói rằng sở dĩ anh ta nhận được mức lương cao thế phần lớn là vì khả năng giao tiếp với mọi người của anh ta. Tôi hỏi anh ta đã làm như thế nào. Sau đây chính là bí quyết do chính anh ta tiết lộ - những từ anh ta nói ra nên được khắc lên bảng đồng và treo trong từng ngôi nhà, từng trường học, cửa hàng và văn phòng trên xứ sở này; những từ ngữ mà trẻ con nên học thuộc lòng thay vì phí thời gian ghi nhớ chia các động từ Latinh, hay lượng mưa hàng năm tại Brazil; những từ ngữ gần như sẽ làm biến đổi cuộc đời của bạn và của tôi nếu chúng ta sống cùng với chúng.

“Tôi xem khả năng đánh thức lòng nhiệt tình ở mọi người của tôi”, Schwab nói, “là thứ tài sản tuyệt vời nhất mà tôi có, và khả năng phát triển những năng lực tốt nhất ở mọi người bằng cách khen ngợi và khuyến khích”.

“Chẳng có điều gì hủy diệt những tham vọng của người ta nhanh hơn chỉ trích từ cấp trên. Tôi chẳng bao giờ chỉ trích ai hết. Mà tin rằng mình nên khuyến khích mọi người làm việc. Thế nên tôi háo hức khen ngợi họ nhưng không gay gắt với sai lầm của họ. Nếu tôi thích điều gì, tôi không bao giờ tiết kiệm những lời khen ngợi”.

Đó là việc mà Schwab đã làm. Nhưng người bình thường thì họ làm gì? Hoàn toàn ngược lại. Nếu họ chẳng thích điều gì đó, họ lớn tiếng mắng chửi nhân viên; nếu họ thích điều gì đó, họ lại chẳng nói gì. Như một cặp câu thơ cũ rằng: “Khi tôi làm tốt thì chẳng ai nhớ. Khi tôi làm sai thì chẳng ai quên”. Trong các mối quan hệ trong cuộc đời, tôi từng gặp gỡ nhiều con người vĩ đại ở khắp nơi trên thế giới”. Schwab tuyên bố, “Thế nhưng tôi lại chẳng thấy một người nào, dù ở địa vị cao, mà một khi được khuyến khích lại không làm việc và cố gắng hết mình hơn khi anh ta bị chỉ trích”.

Rồi anh ta nói thẳng, rằng đây là một trong những lý do chính giải thích cho thành công mang tính hiện tượng của Andrew Carnegie. Ông ta luôn luôn tán dương các thuộc cấp của mình cả công khai lẫn riêng tư.

Carnegie muốn khen ngợi các thuộc cấp ngay cả trên bia mộ của mình. Ông đã tự lập tấm bia mộ cho chính mình, trên đó viết rằng: “Nơi đây yên nghỉ một người biết tập hợp xung quanh mình những người còn thông minh hơn cả ông ta”.

Sự đánh giá chân thành là một trong những bí quyết thành công của John.D. Rockefeller trong đối nhân xử thế. Chẳng hạn, khi một trong các đối tác của ông, Edward.T.Beford, làm công ty thiệt mất 1 triệu USD do một thương vụ tồi tại Nam Mỹ, John. D. có thể đã bị chỉ trích; nhưng ông biết Bedford đã cố gắng hết sức - và vụ này đã khép lại. Thế nên Rockefeller hiểu ông cần phải khen ngợi cái gì; ông chúc mừng Bedford vì ông ta có thể cứu được 60% khoản tiền ông ta đã đầu tư. “Thật tuyệt vời”, Rockefeller nói, “Cấp trên chúng ta thường không hay làm như thế”.

Có một câu chuyện ngớ ngẩn rằng, một bà nông dân, sau khi kết thúc một ngày làm việc nặng nhọc, bà ta đặt trước mặt đám đàn ông trong gia đình một chồng cỏ khô cao ngất. Và khi họ phẫn nộ hỏi rằng có phải bà ta bị điên rồi không, bà ta đáp: “Sao thế, làm sao tôi biết các người sẽ để ý? Tôi đã nấu ăn cho các người hai mươi năm rồi, trong suốt khoảng thời gian đó có ma nào nói với tôi một câu rằng chúng tao không ăn cỏ đâu?”.

Khi tiến hành một nghiên cứu vài năm trước về các bà vợ chạy trốn, bạn nghĩ nguyên nhân chính khiến các bà vợ bỏ trốn được phát hiện là gì? Chính là “không được thừa nhận”. Và tôi dám cá rằng một nghiên cứu tương tự về các ông chồng bỏ trốn cũng sẽ cho ra kết quả tương tự. Chúng ta thường xuyên xem việc vợ/ chồng phục vụ mình là đương nhiên, đến nỗi chúng ta không bao giờ chịu thừa nhận công lao của họ.

Florenz Ziegfield, nhà sản xuất trứ danh nhất từng khiến Broadway choáng váng, nổi tiếng vì khả năng “tôn vinh thiếu nữ Mỹ” một cách tinh tế. Không biết bao nhiêu lần, ông mang theo những cô nàng nhỏ nhắn xấu xí, nhếch nhác đến nỗi không ai dám nhìn đến lần thứ hai, và ngay trên sân khấu ông biến đổi họ thành những cô nàng bí ẩn và quyến rũ tuyệt vời. Hiểu rõ giá trị của sự thừa nhận và tự tin, ông khiến phụ nữ cảm thấy mình xinh đẹp chỉ bằng sức mạnh của lòng dũng cảm và sự quan tâm. Ông là người rất thực tế: tăng lương cho các cô gái hát trong dàn hợp xướng từ 30 lên tận 175 USD mỗi tuần. Hơn nữa ông còn rất chu đáo: Vào đêm mở màn tại Follies, ông gửi điện tín đến từng ngôi sao trong dàn diễn viên, và gửi bao nhiêu đóa hồng American Beauty tặng toàn bộ các cô gái trong dàn hợp xướng.

Tôi từng đầu hàng, không thể tiếp tục tuyệt thực sau sáu ngày đêm không ăn không uống. Việc này không khó. Đến cuối ngày thứ sáu tôi không còn cảm thấy đói như sau ngày thứ hai. Thế nhưng tôi cũng như bạn đều biết rằng, nhiều người sẽ cảm thấy mình phạm tội ác khi để gia đình họ hoặc nhân viên của họ trải qua sáu ngày không ăn gì; tuy nhiên, họ lại chẳng cảm thấy cắn rứt khi bỏ mặc gia đình, nhân viên của họ thèm khát được thừa nhận chẳng khác gì thèm thức ăn sau sáu ngày, sáu tuần hoặc thậm chí là sáu mươi năm.

Khi Alfred Lunt, một trong những diễn viên tuyệt vời nhất trong thời đại mình, đóng vai chính trong phim Đoàn tụ ở Vienna, ông đã nói, “Tôi chẳng mong muốn điều gì thật nhiều ngoài việc nuôi dưỡng lòng tự trọng của mình”.

Chúng ta nuôi dưỡng cơ thể của con cái, bạn bè và nhân viên, nhưng chúng ta thường xuyên quan tâm đến lòng tự trọng của họ đến mức nào? Chúng ta cung cấp cho họ thịt bò nướng, khoai tây để nạp năng lượng, nhưng chúng ta lại quên không tặng cho họ những lời thừa nhận tử tế, để chúng mãi mãi vang lên trong hồi ức của họ như những khúc nhạc mừng ánh nắng ban mai.

Paul Harvey, trong một bài phát biểu của ông trên sóng phát thanh, “Phần Còn lại của Câu chuyện” đã cho thấy sự thừa nhận chân thành có thể thay đổi cuộc đời một con người như thế nào. Ông kể rằng, nhiều năm về trước, một giáo viên tại Detroit đề nghị Steve Morris giúp cô ta tìm một con chuột bị lạc trong lớp học. Bạn biết không, cô ấy đã thừa nhận rằng Stevie sở hữu một năng lực mà không ai có. Năng lực ấy chính là đôi tai siêu thính như sự đền bù cho đôi mắt mù. Nhưng đây là lần đầu tiên mà Stevie được nghe một lời thừa nhận về đôi tai tài năng ấy. Giờ đây, nhiều năm sau, ông nói rằng chính hành động thừa nhận này khiến cuộc đời ông bước sang trang mới. Bạn biết không, kể từ lần ấy, ông đã phát triển năng lực nghe này, tự đặt cho mình nghệ danh Stevie Wonder, ông đã trở thành một trong những ca sĩ, và nhạc sĩ nhạc pop vĩ đại của thập niên bảy mươi.

Vài độc giả có lẽ khi đang đọc những dòng này sẽ nói: “Ôi trời! Tâng bốc! Nịnh hót! Mình từng thử cách đó rồi. Có hiệu quả đâu - với người thông minh thì chẳng hiệu quả gì hết”.

Dĩ nhiên, tâng bốc không hiệu quả đối với những người sáng suốt. Thậm chí còn cho thấy sự nông cạn, ích kỷ và thiếu chân thành. Chắc chắn sẽ thất bại như nó luôn luôn thế. Đúng, có vài người rất thèm khát được thừa nhận đến nỗi họ sẽ chấp nhận bất cứ điều gì, giống hệt một kẻ chết đói sẽ ăn hết cả cỏ lẫn giun.

Ngay cả Nữ hoàng Victoria cũng dễ bị ảnh hưởng bởi trò tâng bốc. Thủ tướng Anh Benjamin Disraeli thừa nhận rằng ông thường tán dương hết lời khi trao đổi với nữ hoàng. Nói đúng hơn, ông đã nói rằng mình “nịnh bà ta ra mặt”. Tuy nhiên, Disraeli là một trong những người lịch sự, thông minh và khéo léo nhất từng cai trị Vương quốc Anh rộng lớn. Ông là thiên tài trong thế hệ của mình. Việc ông đã làm thật hoàn hào chưa chắc chúng ta làm theo đã đạt hiệu quả tương tự. Về lâu về dài, tâng bốc có thể có hại nhiều hơn có lợi. Tâng bốc là giả vờ, và như tiền giả vậy, dần dần nó sẽ khiến bạn gặp rắc rối nếu bạn tặng nó cho người khác.

Sự khác biệt giữa thừa nhận và tâng bốc là gì? Đơn giản thôi. Một bên là chân thành và một bên là không chân thành. Một bên xuất phát từ trái tim; một bên xuất phát từ đầu lưỡi. Một bên là vô tư; một bên là ích kỷ. Một bên ai cũng ngưỡng mộ; một bên ai cũng lên án.

Gần đây tôi được chứng kiến bức tượng bán thân người anh hùng châu Âu, Tướng quân Ajvaro Obregon tại Cung điện Chapultepec ở thành phố Mexico. Phía dưới bức tượng này có khắc những dòng chữ triết lý sáng suốt của Tướng quân Obregon: “Không phải sợ những kẻ thù tấn công mình. Mà hãy sợ những người bạn tâng bốc mình”.

Không! Không! Không! Tôi không gợi ý tâng bốc đâu. Mà ngược lại hoàn toàn. Tôi đang nói về một cách sống mới. Tôi xin nhắc lại. Tôi đang nói về một cách sống mới.

Đức vua George V đã viết sáu câu châm ngôn lên tường phòng nghiên cứu của ông, ở điện Buckingham. Một trong những câu châm ngôn này như sau: “Đừng dạy ta cách nói ra hay lắng nghe lời ca ngợi rẻ tiền”. Tất cả những lời tâng bốc cũng chỉ là ca ngợi rẻ tiền. Tôi từng đọc một định nghĩa về tâng bốc xứng đáng để nhắc lại: “Tâng bốc chính là nói cho người khác nghe chính xác điều gì anh ta nghĩ về bản thân mình”.

Ralph Waldo Emerson từng nói, “Cứ sử dụng bất kỳ ngôn ngữ nào bạn muốn, bạn không bao giờ nói được điều gì ngoài việc bạn là ai”. Nếu tất cả những gì chúng ta có thể làm là tâng bốc, tất cả mọi người rồi sẽ trở thành người nổi tiếng và tất cả chúng ta sẽ là chuyên gia về quan hệ con người.

Khi chúng ta không dành thời gian suy nghĩ về vấn đề nhất định nào đó, chúng ta thường dành 99% thời gian nghĩ về bản thân mình. Giờ nếu chúng ta dừng suy nghĩ về bản thân mình một lúc và bắt đầu nghĩ về các ưu điểm của người khác, chúng ta sẽ không phải dùng đến tâng bốc quá rẻ tiền, và sai lầm đến nỗi ai cũng nhận ra được khi lời tâng bốc còn chưa được thốt ra.

Một trong những phẩm chất ít ai để ý nhất trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta chính là sự thừa nhận. Bằng cách nào đó, chúng ta không khen ngợi con cái mình, khi đứa bé mang về nhà một điểm tốt nào đó, và chúng ta không thể khuyến khích con cái mình khi chúng lần đầu tiên nướng bánh hoặc xây một cái lồng chim thành công. Chẳng có điều gì khiến đứa trẻ vui hơn sự quan tâm và ủng hộ của cha mẹ chúng.

Lần đầu tiên bạn thưởng thức món thịt bò thăn tại câu lạc bộ, bạn nói vài lời với đầu bếp rằng món này được chuẩn bị một cách tuyệt hảo, và khi một người bán hàng mệt mỏi dành cho bạn cử chỉ lịch thiệp bất ngờ, xin hãy nói về điều đó.

Từng viên giáo sĩ, giảng viên và diễn giả nói trước đám đông đều thấy nản lòng sau khi đã dốc hết bầu tâm sự với khán giả, nhưng lại chẳng nhận được một tí thừa nhận nào. Điều gì áp dụng được với các nhà chuyên môn cũng áp dụng được gấp đôi với các nhân viên trong văn phòng, cửa hàng và nhà máy, với gia đình và bạn bè chúng ta. Trong những mối quan hệ giữa cá nhân với nhau, chúng ta chẳng nên quên rằng tất cả đồng nghiệp của chúng ta cũng đều là người, và đều thèm khát được thừa nhận. Đó là cảm xúc chính đáng mà ai cũng có quyền được hưởng.

Trên hành trình mỗi ngày hãy để lại sau lưng bạn những vệt sáng lấp lánh của lòng biết ơn. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy chúng biến thành ngọn lửa tình bạn ấm áp chào đón bạn ghé thăm lần sau.

Pamela Dunham ở New Pairfeild, Connecticut, một trong những trách nhiệm của cô là giám sát một người lao công đang làm việc không tốt. Các nhân viên khác sẽ cười nhạo, chế giễu ông ta và vứt rác bừa bãi khắp hành lang để ông ta thấy mình đang làm việc tệ đến mức nào (cũng thật tệ, cửa hàng đã lãng phí khoảng thời gian hữu ích.)

Không thành công, Pam bèn thử rất nhiều cách nhằm khuyến khích con người này. Cô nhận thấy rằng thi thoảng ông ta lại làm việc rất tốt. Cô luôn luôn khen ngợi ông ta về những việc làm tốt trước mặt những người khác. Mỗi ngày trôi qua, từng công việc của ông ta ngày càng tốt hơn, không lâu sau đó ông ta bắt đầu làm tốt mọi việc. Giờ thì ông ta đã đạt thành tích xuất sắc, những người khác đã thừa nhận và đánh giá cao kết quả công việc của ông ta. Sự thừa nhận chân thành đạt được mục đích mà chỉ trích và chế nhạo không làm được.

Làm tổn thương người khác chẳng giúp họ thay đổi, cũng chẳng ai cần đến. Có một câu ngạn ngữ cổ mà tôi đã cắt nó ra dán lên tấm gương nhà mình, để tôi phải nhìn thấy nó hàng ngày:

Tôi sẽ đi qua con đường này chỉ một lần thôi; do đó bất kỳ điều gì tốt đẹp tôi có thể làm được, hay bất kỳ lòng tốt nào tôi có thể chứng tỏ cho người khác thấy, ngay lúc này hãy cho phép tôi được làm. Xin đừng bắt tôi phải trì hoãn hay làm ngơ, vì con đường này tôi sẽ không quay lại.

Emerson đã nói, “Từng người tôi gặp đều giỏi giang hơn tôi về mặt nào đó. Nhờ vậy, tôi đều học được điều gì đó từ họ”.

Nếu điều này đúng với Emerson, vậy tại sao nó không thể trăm ngàn lần đúng đối với bạn và tôi? Hãy đừng nghĩ đến những thành tích hay những ham muốn của chúng ta. Hãy cố gắng tìm ra những ưu điểm của người khác. Hãy quên trò tâng bốc đi. Hãy trao cho nhau sự thừa nhận chân thành, từ trái tim. Hãy “chân thành trong đánh giá và đừng tiết kiệm lời khen”, mọi người sẽ nâng niu những lời nói của bạn, trân trọng chúng và nhắc đi nhắc lại chúng suốt cả cuộc đời họ - lặp lại chúng nhiều năm sau ngay cả khi bạn đã lãng quên.

NGUYÊN TẮC 2

Hãy đánh giá thật chân thành và thiết tha

1 Bình luận