Đắc Nhân Tâm

Chương 3: 1. “Muốn lấy mật đừng phá tổ ong”

Số chữ: 6513

1. “Muốn lấy mật đừng phá tổ ong”

Ngày 07 tháng Năm năm 1931, cuộc săn lùng nhạy cảm nhất thành phố New York từng biết đã lên đến đỉnh điểm. Sau nhiều tuần truy bắt, Crowley “Hai Súng” - kẻ sát nhân, tay súng không hút thuốc, không uống rượu - đang lâm vào đường cùng, mắc kẹt trong căn hộ của ả bồ nhí trên Đại lộ West End.

Một trăm năm mươi cảnh sát và thám tử vây chặt chỗ hắn lẩn trốn trên tầng cao nhất. Họ đục mấy cái lỗ trên mái nhà, cố gắng hun chết Crowley, “kẻ giết cảnh sát” bằng hơi cay. Họ chĩa súng máy vào ngôi nhà từ các tòa nhà gần đó, và trong hơn một tiếng đồng hồ sau đó, một trong những khu dân cư đẹp nhất New York rung chuyển bởi tiếng súng ngắn và từng tràng súng máy. Nấp sau chiếc ghế bọc đầy bông, Crowley bắn không ngừng vào cảnh sát. Mười ngàn người thích thú chứng kiến trận đấu súng. Họ chưa bao giờ được thấy cảnh này trên hè phố New York.

Khi Crowley bị bắt sống, Cảnh sát Trưởng E.P. Mulrooney tuyên bố rằng kẻ liều mạng hai súng này là một trong những tên tội phạm nguy hiểm nhất họ từng đối đầu trong lịch sử New York. Ông nói, “Hắn sẽ giết người trong chưa đầy một nháy mắt”.

Nhưng Crowley “Hai súng” nhìn nhận về bản thân hắn ra sao? Bởi vì trong khi cảnh sát đang bắn vào tòa nhà, chúng ta biết hắn đã viết một lá thư đề “Gửi người có liên quan”. Khi đang viết, máu từ những vết thương trên người hắn chảy thành vệt đỏ thẫm trên lá thư. Trong thư Crowley viết, “Dưới lớp áo này của tôi là một trái tim mỏi mệt, nhưng nhân hậu - một trái tim sẽ chẳng làm hại ai”.

Một thời gian ngắn trước đó, Crowley cùng ả bồ nhí tham dự một bữa chè chén linh đình trên con đường quê ngoại ô Long Island. Bất thình lình một cảnh sát bước đến xe hắn và nói, “Vui lòng cho xem bằng lái”.

Không nói không rằng, Crowley rút súng ra bắn liên tiếp khiến viên cảnh sát ngã gục. Khi viên sĩ quan nằm đó hấp hối, Crowley nhảy ra khỏi xe, giật lấy khẩu súng của anh ta, bồi thêm phát nữa vào xác chết nằm sõng soài trên đất. Thế mà thằng khốn sát nhân này vẫn viết rằng: “Dưới lớp áo này của tôi là một trái tim mỏi mệt, nhưng nhân hậu - một trái tim sẽ chẳng làm hại ai”.

Crowley bị tuyên án tử hình trên ghế điện. Khi được giải đến phòng hành hình tại khám Sing Sing, hắn nói, “Đây là những gì tôi nhận được vì giết người sao? Không. Đây là những gì tôi nhận được vì tự vệ”.

Mấu chốt của chuyện này là gì: Crowley không chịu tự nhận lỗi về bất kỳ điều gì.

Phải chăng đây là thái độ lạ thường trong giới tội phạm? Nếu bạn nghĩ thế, hãy lắng nghe điều này:

“Tôi đã dành những tháng năm đẹp nhất đời mình mang lại cho con người những khoái cảm nhẹ nhàng hơn, tận hưởng quãng thời gian vui vẻ, nhưng tất cả những gì tôi nhận lại chỉ là bị lạm dụng, biến thành kẻ bị săn đuổi”.

Người nói câu đó là Al Capone. Phải, kẻ thù chung nguy hiểm bậc nhất nước Mỹ - trùm băng đảng nham hiểm nhất từng gieo kinh hoàng tại Chicago. Capone không nhận lỗi về mình. Hắn thực sự xem mình như một Mạnh Thường quân - một nhà hảo tâm bị phê phán và hiểu nhầm.

Và Dutch Schultz cũng thế, trước khi hắn nát bấy dưới làn đạn của bọn ganster tại Newark. Dutch Schultz, một trong những trùm xã hội đen khét tiếng nhất New York, trong một cuộc phỏng vấn báo chí hắn nói rằng mình là một nhà hảo tâm. Và hắn tin điều đó.

Tôi từng có vài lần trao đổi thư từ thú vị về chủ đề này với Lewis Lawes, người từng làm giám ngục tại khám Sing Sing nổi tiếng New York trong nhiều năm, và ông tuyên bố rằng, “vài tên tội phạm tại Sing Sing tự xem mình là kẻ xấu. Chúng cũng chỉ là người như anh và tôi, thế nên chúng hành động theo chủ nghĩa duy lý, chúng giải thích như vậy đó. Chúng có thể cho anh biết tại sao chúng cậy khóa két, hoặc bóp cò súng nhanh đến thế. Hầu hết bọn chúng đều cố gắng áp dụng một kiểu lý luận, sai lầm hoặc logic, hòng biện minh cho những hành động phản xã hội ngay cả với chính bản thân chúng, cho nên chúng không ngừng trơ trẽn cho rằng mình chẳng đáng bị cầm tù chút nào”.

Nếu ngay cả Al Capone, Crowley “Hai súng”, Dutch Schultz và những kẻ tuyệt vọng sau chấn song sắt còn không tự oán trách bản thân về bất kỳ điều gì - vậy thì những người bạn và tôi cùng tiếp xúc ngoài xã hội sẽ còn thế nào nữa?

John Wanamaker, nhà sáng lập chuỗi cửa hàng bán lẻ mang tên mình, từng thừa nhận, “Ba mươi năm trước tôi đã học được một điều, mắng mỏ chửi rủa chằng để làm gì cả. Tôi đã gặp đủ rắc rối với những giới hạn của mình rồi, hơi đâu mà còn buồn chuyện thế gian có người khôn kẻ dại nữa”.

Wanamaker đã rút ra bài học này từ sớm, nhưng cá nhân tôi phải lăn lộn qua thế giới lạ kỳ này một phần ba thế kỷ mới bắt đầu hiểu ra một điều, một trăm người thì có chín mươi chín kẻ không bao giờ chỉ trích bản thân vì bất kỳ điều gì, không cần biết họ đã sai trái đến thế nào.

Chỉ trích là vô ích vì nó đặt người hứng chịu chỉ trích vào tư thế phòng thủ, và thường khiến anh ta cố gắng tự biện minh cho bản thân. Chỉ trích là nguy hiểm, vì nó làm tổn thương lòng kiêu hãnh quý giá của người khác, tổn thương ý thức bản thân họ là quan trọng và làm phát sinh sự giận dữ.

B.F. Skinner, nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới, qua các nghiên cứu của mình đã chứng minh rằng, một loài vật sau khi được tặng thưởng vì hành vi tốt, nó sẽ học hỏi được nhanh hơn nhiều và nhớ những gì được học hiệu quả hơn hẳn đồng loại bị trừng phạt vì hành vi xấu. Các nghiên cứu sau này cho thấy rằng điều tương tự cũng xảy ra ở con người. Thông qua chỉ trích, chúng ta không tạo ra được những thay đổi kéo dài và thường làm phát sinh sự bất mãn.

Hans Selye, một nhà tâm lý học vĩ đại khác, từng nói, “Chúng ta càng thích được khen bao nhiêu, chúng ta càng ghét bị lên án bấy nhiêu”.

Bất mãn sinh ra do chỉ trích có thể hủy hoại nền móng đạo đức của các nhân viên, thành viên gia đình và bạn bè, mà vẫn không chỉnh sửa được tội lỗi bị lên án.

George B. Johnson ở Enid, Oklahoma, phụ trách về an toàn lao động cho một công ty thiết kế xây dựng. Một trong các trách nhiệm của ông đó là giám sát nhân viên đội mũ bảo hiểm bất kỳ lúc nào làm việc trên công trường. Ông báo cáo rằng cứ hễ khi nào bắt quả tang công nhân không đội mũ bảo hiểm, với thẩm quyền ông sẽ lôi quy định ra mắng mỏ họ, bắt họ phải tuân thủ. Kết quả, thứ ông nhận được chỉ là sự miễn cưỡng tuân lệnh, rồi sau khi ông đi khỏi, họ lại không thèm đội mũ như trước.

Ông bèn thử một cách tiếp cận khác. Lần sau, khi bắt gặp vài công nhân không đội mũ bảo hiểm, ông đã hỏi họ phải chăng mấy cái mũ không thoải mái hay không vừa vặn. Sau đó, ông nhẹ nhàng nhắc nhở họ rằng mũ được thiết kế nhằm bảo vệ họ khộng bị chấn thương, và đề nghị họ hãy luôn luôn đội mũ khi làm việc. Kết quả là sự tuân thủ quy định ngày càng tăng, không làm nảy sinh bất mãn hoặc cảm giác tức giận.

Bạn sẽ thấy các ví dụ về sự vô ích của chỉ trích đầy rẫy trong hàng nghìn trang lịch sử. Lấy ví dụ, trận tranh cãi nổi tiếng giữa Theodore Roosevelt với Tổng thống Taft - một cuộc cãi vã chia rẽ Đảng Cộng hòa, đưa Woodrow Wilson vào Nhà Trắng, và viết nên những dòng đậm nét, nổi bật suốt chiều dài cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và làm thay đổi tiến trình lịch sử. Hãy cùng lướt qua những thông tin này. Khi Theodore Roosevelt rời Nhà Trắng năm 1908, ông đã ủng hộ Taft, người được bầu làm Tổng thống. Xong xuôi Theodore Roosevelt lên máy bay sang châu Phi săn sư tử. Khi quay về, ông nộ khí xung thiên. Roosevelt tố cáo chủ nghĩa bảo thủ của Taft, cố gắng tự ra ứng cử Tổng thống nhiệm kỳ ba, lập nên Đảng Bull Moose, suýt làm sụp đổ Đảng Cộng hòa. Trong cuộc bầu cử sau đó, William Howard Taft và Đảng Cộng hòa chỉ giành thắng lợi ở hai bang - Vermont và Utah. Đó là thất bại nặng nề nhất trong lịch sử Đảng Cộng hòa.

Theodore Roosevelt oán trách Taft, tuy nhiên Tổng thống Taft có thừa nhận lỗi của mình không? Tất nhiên là không, Với đôi mắt rưng rưng lệ, Taft nói, “Tôi chẳng hiểu mình đã làm cái quái gì sai?”.

Biết trách ai đây? Roosevelt hay Taft? Thật ra tôi không biết, và cũng chẳng quan tâm. Vấn đề tôi muốn nói đó là, tất cả những chỉ trích của Theodore Roosevelt không thể thuyết phục được Taft rằng ông ta đã sai. Mà chỉ khiến Taft cố gắng tự biện minh cho bản thân, và ông ta vừa khóc vừa nói, “Tôi chẳng hiểu mình đã làm cái quái gì sai?”.

Hoặc lấy vụ bê bối dầu lửa Teapot Dome làm ví dụ. Vụ này từng khiến báo chí ầm ầm phẫn nộ vào đầu những năm 1920. Làm rung chuyển đất nước! Trong hồi ức của những người còn sống, một vụ thế này chưa từng xảy ra trong lịch sử xã hội Mỹ. Đây là những sự thật trần trụi của scandal: Albert B. Fall, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Nội các Tổng thống Harding, được ủy thác cho thuê các kho dự trữ dầu lửa của chính phủ tại Elk Hill và Teapot Dome - vốn để dành cho Hải quân sử dụng sau này. Bộ trưởng Fall có cho phép đấu thầu cạnh tranh không? Thưa không. Ông ta tặng luôn cái hợp đồng béo bở, ngọt ngào này cho ông bạn, Edward L. Doheny. Và Doheny đã làm gì? Ông ta lại trả cho Bộ trưởng Fall thứ mà ông ta ưu ái gọi là “khoản vay” 100.000 USD. Tiếp theo, Bộ trưởng Fall cậy quyền thế ra lệnh cho Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ dùng vũ lực đuổi hết các đối thủ cạnh tranh ra khỏi kho dự trữ Elk Hill, không cho phép họ dùng giếng dầu tiếp tục hút dầu. Bị đuổi ra khỏi chỗ làm ăn bằng súng và lưỡi lê, nhóm đối thủ cạnh tranh uất ức kéo nhau đi kiện - hậu quả đưa vụ bê bối Teapot Dome ra ánh sáng. Cái mùi xấu xa bốc lên mạnh tới mức làm sụp đổ Chính quyền Tổng thống Harding, làm cả đất nước chấn động, đe dọa làm suy yếu Đảng Cộng hòa và Albert B. Fall bị tống giam.

Tất cả cùng lên án Fall dữ dội - chỉ vài người trong xã hội Mỹ chịu tình cảnh này. Ông ta có ăn năn không? Không bao giờ! Nhiều năm sau, Herbert Hoover trong một bài diễn văn công khai đã tâm sự rằng, cái chết của Tổng thống Harding là do tinh thần kiệt quệ và lo lắng vỉ bị bạn bè phản bội. Nghe những lời này, bà Fall đứng bật dậy khỏi ghế ngồi, hai tay nắm chặt thành nắm đấm và thét lên, “Cái gì! Fall phản bội Harding sao? Không! Chồng tôi chưa bao giờ phản bội bất kỳ ai. Nhà chồng tôi không thiếu vàng mà phải đi làm cái trò đấy. Anh ấy mới là người bị phản bội, rồi bị dẫn đến lò mổ và đóng đinh trên thập giá”.

Bạn thấy đấy; bản chất con người trong hành động, những kẻ làm sai thường oán trách người khác thay vì tự vấn bản thân. Chúng ta đều như nhau. Thế nên mai này khi bạn và tôi muốn chỉ trích ai đó, hãy nhớ đến Al Capone, Crowley “Hai súng” và Albert Fall. Hãy hiểu rằng những lời chỉ trích giống như lũ chim bồ câu đã thuần. Chúng luôn bay về tổ. Rằng người mà chúng ta sắp sửa chỉnh đốn, lên án sẽ có khả năng tự biện minh cho bản thân, và lên án ngược lại chúng ta; hoặc như Taft tinh tế, ông ta sẽ nói rằng, “Tôi chẳng hiểu mình đã làm cái quái gì sai?”.

Sáng ngày 15 tháng Tư năm 1865, Abraham Lincoln nằm hấp hối trong phòng ngủ của một nhà trọ rẻ tiền đối diện Nhà hát Ford, nơi John Wilkes Booth đã bắn ông. Thân thể cao lớn của Lincoln nằm vắt chéo chiếc giường đệm lún dường như quá ngắn so với ông. Trên đầu ông là bức tranh chép rẻ tiền bức họa nổi tiếng The Horse Fair của Rosa Bonheur, căn phòng chìm trong ánh sáng vàng vọt bập bùng tỏa ra từ chiếc đèn hàn xì tối màu.

Khi Lincoln đang hấp hối, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh, Stanton đã nói, “Nằm đây là một nguyên thủ hoàn hảo nhất thế giới từng chứng kiến”.

Bí quyết đối nhân xử thế thành công của Lincoln là gì? Tôi đã nghiên cứu Abraham Lincoln suốt mười năm, dành hẳn ba năm viết đi viết lại một cuốn sách mang tựa đề Lincoln Điều Chưa Biết. Tôi tin mình đã có một nghiên cứu chi tiết và thấu đáo hết sức có thể về nhân cách và cuộc sống gia đình của Lincoln. Ngoài ra còn một nghiên cứu đặc biệt về cách đối nhân xử thế của Lincoln. Ông có bị chìm đắm vào thói quen chỉ trích không? Có đấy. Hồi còn trẻ, tại Pigeon Creek Valley, Indiana, ông không những chỉ trích mà còn viết hẳn thư từ và thơ phú chế nhạo người khác, rải những lá thư ấy trên khắp nẻo đường quê để ai cũng thấy. Một trong những lá thư này đã làm phát sinh cơn oán hận bùng cháy suốt một đời.

Ngay cả sau khi Lincoln hành nghề luật sư tại Springfield, Illinois, ông vẫn công kích công khai các đối thủ của mình trong những lá thư đăng trên báo. Và có thể ông sẽ tiếp tục làm như thế nếu như không có một ngày.

Vào mùa thu năm 1842, ông chế giễu một chính trị gia kiêu ngạo, thích gây gổ có tên là James Shields. Lincoln đả kích ông ta bằng một lá thư nặc danh đăng trên tờ Journal tại Springfield. Cả thành phố ôm bụng cười. Vốn nhạy cảm và kiêu hãnh, Shields sôi lên vì tức tối. Sau khi phát hiện ai là tác giả bức thư, ông ta lên ngựa, phóng đến nhà Lincoln và thách ông đấu kiếm. Lincoln không muốn nhận lời thách thức. Ông phản đối chuyện đấu kiếm, nhưng ông không thể thoát khỏi nó và cứu vãn danh dự của mình. Ông được dành quyền chọn vũ khí. Vì có sải tay dài nên Lincoln chọn thanh trường kiếm của kỵ binh và học đấu kiếm cấp tốc từ một người bạn tốt nghiệp trường West Point. Vào ngày đọ kiếm như đã hẹn, ông cùng Shield gặp nhau tại một bãi cát bên sông Mississippi, sẵn sàng cho trận đọ kiếm sinh tử. May mắn thay, vào phút cuối, những người giúp việc của họ đã can thiệp và tạm ngừng trận đấu.

Đó đúng là sự kiện cá nhân có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến cả cuộc đời Lincoln. Nó đã dạy ông một bài học quý giá về nghệ thuật đối nhân xử thế. Lincoln không bao giờ viết thư lăng mạ bất kỳ ai. Ông không bao giờ chế nhạo ai. Và từ đó trở đi ông gần như không bao giờ chỉ trích ai về bất cứ điều gì nữa.

Hết lần này đến lần khác, trong suốt cuộc Nội chiến Mỹ, Lincoln đã từng đề cử các viên tướng mới chỉ huy Đạo quân tại Potomac, và lần lượt từng người - McClellan, Pope, Burnside, Hooker và Meade - đều từng phạm những sai lầm khủng khiếp khiến cho Lincoln nhiều lần phải giậm chân vì tuyệt vọng. Một nửa đất nước kịch liệt lên án những viên tướng bất tài này, nhưng Lincoln “không hề chỉ trích bất kỳ ai và luôn tỏ thiện chí với tất cả” vẫn giữ tâm trạng bình thản. Một trong những câu ông thường hay nói là: “Không phán xét, để rồi chính mình bị phán xét”.

Khi bà Lincoln cùng những người khác lên án gay gắt người dân miền Nam, Lincoln đáp rằng: “Đừng chỉ trích họ; vì chúng ta cũng sẽ hành xử như thế trong những hoàn cảnh tương tự”.

Vậy nhưng nếu người nào có cơ hội để lên tiếng chỉ trích, chắc chắn đó chính là Lincoln. Hãy cùng xem minh họa này:

Trận Gettysburg diễn ra trong ba ngày đầu tháng Bảy năm 1863. Trong đêm ngày 4 tháng Bảy, tướng Lee bắt đầu rút quân về phía Nam trong khi các đám mây bão trút xuống những trận mưa trắng xóa khắp vùng. Khi Lee dẫn đoàn quân thất trận của mình đến được dòng sông Potomac, ông thấy trước mặt mình là dòng Potomac đang thét gào, nước cuồn cuộn sủi bọt trắng xoá, sau lưng là một đạo quân liên minh chiến thắng đang rượt đuổi. Lee bị kẹt ở giữa. Không còn đường thoát. Lincoln đã nhìn ra điều đó. Đây là cơ hội bằng vàng, ngàn năm có một để hốt trọn đạo quân của tướng Lee và chấm dứt chiến tranh ngay lập tức. Thế nên với niềm hy vọng đang dâng cao, Lincoln ra lệnh cho tướng Meade ngừng triệu tập hội đồng chiến tranh mà lập tức lên đường tấn công Lee. Lincoln đã chuyển lệnh bằng điện tín, sai một đặc phái viên đến gặp Meade yêu cầu phải hành động ngay lập tức.

Nhưng tướng Meade đã làm gì? Ông ta làm ngược lại lệnh của Tổng thống. Ông triệu tập cuộc họp hội đồng chiến tranh, vi phạm trắng trợn mệnh lệnh của Lincoln. Ông ta lại còn ngần ngừ, trì hoãn. Sau đó ông ta đánh điện tín với đầy những câu xin lỗi. Ông từ chối tiếp tục tiến quân tấn công Lee. Sáng hôm sau nước rút, tướng Lee vượt sông Potomac với lực lượng còn nguyên vẹn.

Lincoln tức giận điên người, ông gào lên với Robert, con trai ông: “Thế này là sao hả?”. “Chúa Lòng Thành! Cha không thể hiểu nổi! Chúng đã nằm gọn trong tay ta rồi; chỉ cần chìa tay ra là tóm gọn tất cả; Cha đã nói đến thế, đã làm đến thế rồi nhưng quân đội vẫn không dám tấn công. Trong hoàn cảnh thuận lợi đó, bất kỳ viên tướng nào cũng có thể đánh bại Lee. Nếu cha mà ở đó, có lẽ chính tay cha sẽ tẩn cho tên Meade đó một trận”.

Trong nỗi cay đắng và thất vọng tột cùng, Lincoln ngồi xuống viết thư cho Meade. Các bạn hãy nhớ, vào giai đoạn này của cuộc đời mình, Lincoln cực kỳ bảo thủ và rất khó thay đổi suy nghĩ của mình. Chính vì thế, bức thư năm 1863 này của Lincoln chẳng khác gì lời quở trách nặng nề nhất:

Tướng quân thân mến,

Tôi không tin là ông đánh giá đúng tầm quan trọng của mối nguy cơ khi để tướng Lee trốn thoát. Ông ta gần như đã nằm trọn trong tay chúng ta, nếu bắt được Lee và nếu liên quan đến những thành công sau này của chúng ta, cuộc nội chiến này có thể đã kết thúc. Thế nhưng trong tình cảnh này, không biết cuộc chiến này sẽ còn tiếp tục kéo dài đến bao giờ. Nếu vào thứ Hai tuần trước ông không thể an toàn tấn công tướng Lee, làm sao ông còn hy vọng làm được điều tương tự ở phía nam con sông, trong khi trong tay ông còn rất ít quân - không nhiều hơn 2/3 lực lượng ông đã từng có? Chẳng có lý do gì để có thể hy vọng, và tôi chả hy vọng rằng ông có thể làm được gì nhiều. Ông đã hoàn toàn đánh mất cơ hội ngàn năm có một, và tôi cực kỳ thất vọng vì chuyện đó”.

Các bạn nghĩ Meade đã làm gì khi đọc bức thư này?

Ông ta không bao giờ đọc được lá thư này. Lincoln không gửi nó đi. Lá thư được tìm thấy trong đống giấy tờ của ông sau khi Lincoln qua đời.

Theo phỏng đoán của tôi - chỉ là phỏng đoán thôi - sau khi viết bức thư này, Lincoln đã nhìn ra ngoài cửa sổ, và tự nhủ: “Khoan đã. Có thể mình không nên vội vã như vậy. Chẳng khó gì khi ta ngồi ở đây trong cảnh bình yên của Nhà Trắng để ra lệnh cho Meade tấn công; nhưng giả sử ta đang ở Gettysburg, tận mắt nhìn thấy cảnh máu đổ kinh hoàng như Meade đã nhìn thấy trong suốt tuần vừa rồi, tận tai nghe tiếng la hét kêu gào của những đồng đội bị thương và đang hấp hối như Meade đã nghe, thì có lẽ ta cũng sẽ không còn muốn tấn công nữa. Và hơn nữa, nếu như ta có tính nhút nhát, do dự của Meade, có lẽ ta cũng sẽ làm đúng như điều ông ta đã làm. Dẫu sao, sự việc đã rồi, nước đã chảy qua cầu. Nếu bức thư này được gửi đi, ta sẽ hả giận phần nào nhưng Meade có thể tìm cách tự bào chữa hoặc quay lại kết án ta. Điều đó sẽ gây ra những phản ứng tiêu cực, cản trở năng lực của Meade sau này với tư cách là Tổng tư lệnh và biết đâu, tai hại hơn nữa là vì thế mà ông ta có thể bị buộc phải rời khỏi quân đội”.

Thế nên như tôi đã nói, Lincoln gạt bức thư sang một bên, vì nhờ vào kinh nghiệm cay đắng, ông hiểu rằng những lời phê phán và chỉ trích gay gắt hầu như bao giờ cũng mang đến kết quả tiêu cực.

Theodore Roosevelt hồi còn làm tổng thống, kể lại rằng khi phải đối diện với những vấn đề rắc rối, ông thường ngả người vào ghế và ngước nhìn bức chân dung khổ lớn của Lincoln treo trên bàn làm việc của mình ở Nhà Trắng, rồi tự hỏi: “Lincoln sẽ làm gì nếu ở trong hoàn cảnh này ? Ông sẽ giải quyết vấn đề như thế nào?”.

Lần sau, mỗi khi chúng ta cảm thấy muốn trách mắng ai đó, hãy lấy từ trong túi ra một tờ 5 đô la, rồi nhìn vào ảnh Lincoln trên tờ tiền, và hỏi rằng: “Với vấn đề này, Lincoln sẽ làm như thế nào?”.

Mark Twain có lần mất bình tĩnh, viết ra những lá thư đầy sự tức giận. Chẳng hạn, ông từng viết thư cho một người làm ông tức điên như thế này: “Điều mà anh cần lúc này là một giấy phép tự mai táng. Anh chỉ cần thông báo, tôi sẽ lo được ngay”. Một lần khác, ông viết thư cho một nhà biên tập, trách mắng nhân viên hiệu đính dám chỉnh sửa “lỗi chính tả và cách chấm câu của tôi”. Ông ra lệnh: “Liên quan đến vấn đề bản thảo của tôi từ nay về sau, nên dạy bảo thằng hiệu đính ấy hãy giữ lại những ý tưởng điên rồ trong cái đầu tệ hại của hắn cho đến chết đi”.

Viết xong những bức thư chỉ trích như thế, Mark Twain cảm thấy thoải mái hơn nhiều. Những lời lẽ cay nghiệt đó giúp ông giải toả được cơn giận, tuy nhiên may mắn là chúng thực sự không gây thiệt hại gì lớn, bởi vì phu nhân của Mark Twain đã kín đáo giữ tất cả chúng lại. Những lá thư đó không bao giờ đến tay người nhận.

Có người nào bạn đang muốn họ thay đổi và sửa mình để tiến bộ hơn không? Tốt! Quá tốt luôn. Tôi hoàn toàn ủng hộ việc này. Nhưng tại sao lại không bắt đầu  từ bản thân bạn? Thay đổi chính mình là một việc có ích và thực tế hơn nhiều so với việc thay đổi người khác - và đúng, nó bớt nguy hiểm hơn nhiều. Khổng Tử từng nói: “Trước khi than phiền rác trước cửa nhà người khác, hãy lo dọn rác cửa nhà mình”.

Khi tôi hẵng còn trẻ và đang rất nỗ lực gây ấn tượng với mọi người, tôi đã viết một lá thư ngốc nghếch gửi cho Richard Harding Davis, một nhà văn đã từng tỏa bóng cả xuống chân trời văn chương của nước Mỹ. Tôi đang chuẩn bị viết một bài báo về các tác giả, và tôi đề nghị Davis kể tôi nghe về phương pháp làm việc của ông. Vài tuần sau, tôi nhận được lá thư của một người nào đó, với dòng ghi chú này phía dưới cùng: “Thư ký trả lời hộ”. Tôi cực kỳ bị ấn tượng. Tôi cảm thấy rằng ông này chắc phải là nhà văn lớn, bận rộn và quan trọng lắm đây. Bản thân tôi thì chẳng bận rộn tí nào hết, nhưng vì quá nôn nóng muốn gây ấn tượng đối với Richard Harding Davis, nên tôi cũng kết thúc lá thư của mình với dòng chữ “Thư ký trả lời hộ”.

Ông ta chẳng bao giờ buồn trả lời thư. Mà ông ta chỉ đơn giản trả lại lá thư cho tôi kèm theo dòng chữ nguệch ngoạc dưới cùng: “Nhân cách tồi tệ của cậu chỉ có tăng chứ không giảm”. Đúng, tôi đã phạm phải sai lầm ngớ ngẩn, và có lẽ tôi xứng đáng phải nhận lời khiển trách này. Nhưng tôi cũng con người và tôi rất phẫn nộ. Tôi tức giận kinh khủng đến mức khi tôi đọc thông tin về cái chết của Richard Harding Davis mười năm sau đó, có ý một nghĩ vẫn không ngừng ám ảnh trong đầu tôi - phải xấu hổ thừa nhận như vậy - chính là ông ấy đã khiến tôi tổn thương.

Nếu bạn và tôi muốn bị ai đó oán hờn dai đẳng hàng chục năm trời và thậm chí có khi đến lúc chết bạn vẫn còn bị thù hận, thì chúng ta hãy cùng đắm chìm trong những lời châm chích cay độc.

Trong đối nhân xử thế, chúng ta hãy nhớ rằng ta không đối xử như những sinh vật có logic. Mà chúng ta giống như những sinh vật có cảm xúc, sẵn sàng nổi xung lên với những thành kiến, bị kích động bởi lòng kiêu hãnh và tính tự cao tự đại.

Lối chỉ trích gay gắt đã khiến Thomas Hardy nhạy cảm, một trong những tiểu thuyết gia lừng lẫy từng làm phong phú kho tàng văn học Anh, phải vĩnh viễn từ bỏ sự nghiệp sáng tác. Chủ nghĩa phê bình cực đoan cũng từng đẩy Thomas Chatterton, nhà thơ Anh, đến chỗ tự sát.

Benjamin Franklin, một người thô lỗ khi còn trẻ, đã trở thành một nhà ngoại giao tài năng, cực kỳ khéo léo trong đối nhân xử thế, đến mức được chọn làm đại sứ Mỹ ở Pháp. Bí quyết thành công của ông? Ông nói: “Tôi chẳng nói xấu ai cả, mà chỉ nói những điều tốt đẹp mà tôi được biết về họ”.

Bất cứ kẻ ngu ngốc nào cũng có thể chỉ trích, oán trách và than phiền - hầu hết những thằng ngu toàn làm thế.

Nhưng phải là người có tư cách tốt, biết kiểm soát bản thân mới có thể thấu hiểu, bao dung.

Carlyle nói: “Vĩ nhân thường biểu lộ sự vĩ đại của mình trong cách đối xử với những con người thấp bé hơn mình”.

Bob Hoover, phi công lái máy bay thử nghiệm nổi tiếng, thường xuyên lái máy bay trình diễn của Mỹ, khi đang quay về nhà ông ở Los Angeles từ một cuộc trình diễn máy bay ở San Diego. Như được miêu tả trong bài viết trên tờ Flight Operations, khi đang ở độ cao 300 feet, cả hai động cơ máy bay đột ngột ngừng hoạt động. Nhờ tài năng khéo léo, ông đã hạ cánh thành công, không có thiệt hại về người nhưng chiếc máy bay bị hỏng nặng.

Hành động đầu tiên của Hoover sau khi hạ cánh khẩn cấp là kiểm tra bình nhiên liệu của máy bay. Đúng như ông đã nghi ngờ, bình xăng của chiếc máy bay cánh quạt thời Thế Chiến II ông vừa lái không dùng xăng, mà là nhiên liệu phản lực.

Sau khi quay về sân bay, ông đã đề nghị được gặp người thợ máy đã bảo trì máy bay của ông. Anh chàng thợ máy trẻ tuổi phát ốm vì ân hận trước tội lỗi của mình. Những giọt nước mắt lăn dài trên má cậu ta khi Hoover đến gần. Cậu ta vừa làm hỏng một chiếc máy bay rất đắt tiền, và có thể suýt chút nữa đã giết chết ba mạng người.

Bạn có thể hình dung được cơn giận dữ của Hoover. Ai đó có thể dự đoán những lời mắng nhiếc thậm tệ mà người phi công tài ba, đầy kiêu hãnh này sắp sửa trút xuống vì sự bất cẩn đó. Nhưng Hoover đã không hề mắng nhiếc chàng thợ máy; anh cũng không hề chỉ trích cậu ta. Thay vào đó, Hoover đã dùng đôi tay to lớn của mình choàng vai người thợ máy ấy và nói: “Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không bao giờ lặp lại sai sót này nữa. Và tôi muốn sáng mai cậu tiếp tục bảo dưỡng chiếc  F-51 của tôi”.

Cha mẹ thường có xu hướng chỉ trích con cái. Bạn sẽ mong đợi tôi nói rằng: “Đừng”. Nhưng tôi sẽ không làm vậy. Tôi chỉ đơn thuần nói rằng: “Trước khi bạn la mắng con mình, xin hãy đọc tác phẩm cổ điển của thể loại văn báo chí Mỹ, “Cha đã quên”. Bài viết này xuất hiện lần đầu trên Nhật báo People’s Home. Chúng tôi in lại ở đây sau khi đã được tác giả cho phép, khi được đăng lại một cách súc tích hơn trên tờ Reader’s Digest.

“Cha đã quên” là một trong những bài viết ngắn - được viết ra trong giây phút cảm xúc chân thành - tác động mạnh mẽ vào nhiều độc giả đến mức được yêu cầu in lại hàng năm. Ngay sau khi xuất hiện lần đầu, “Cha đã quên” đã được đăng đi đăng lại, ghi tên tác giả là W.Livingston Larned, “trên một trăm tờ báo, tờ tạp chí của công ty và trên các tờ nhật báo trên khắp cả nước. Bài viết được in đi in lại gần như bằng đủ thứ ngôn ngữ. Tôi đã được phép lan truyền bài viết này đến hàng nghìn người khác mong muốn được đọc nó, ở nhà trường, nhà thờ và các buổi giảng dạy trên giảng đường. Bài viết từng đọc “phát thanh” trong vô số dịp và các chương trình. Thật thú vị khi các tạp chí định kỳ của các trường trung học và cao đẳng cũng sử dụng bài viết này. Đôi khi một điều nhỏ bé cũng có thể tạo nên những ảnh hưởng lớn lao kì diệu.

CHA ĐÃ QUÊN

W.Livingston Larned

Con trai yêu quý, con hãy nghe này: Cha nói những lời này khi con đang chìm vào giấc ngủ trẻ thơ, con nằm nghiêng, một bên má nằm đè lên bàn tay bé bỏng của con, những lọn tóc hung đẫm mồ hôi bám chặt vào vầng trán ẩm ướt. Cha đã lẻn vào phòng con một mình. Chỉ mới vài phút trước, khi cha ngồi trong thư viện và đọc bài viết của mình, nỗi hối hận chợt dâng ngập hồn cha. Cảm giác tội lỗi đã xui khiến cha chạy ngay đến bên giường con.

Giờ đây cha đang suy nghĩ nhiều lắm, con trai ạ: Cha đã mắng mỏ con. Cha đã mắng khi con đang mặc quần áo đến trường vì con cầm khăn lau mặt qua quýt. Cha đã la rầy con vì để đôi giày dơ bẩn. Cha đã quát tháo giận dữ vì con vứt bừa bãi cái này cái kia trong nhà.

Trên bàn ăn sáng, cha cũng chỉ thấy lỗi của con. Con làm đổ hết các thứ. Con nuốt thức ăn ừng ực. Hai khuỷu tay của con chống xuống bàn. Con cho quá nhiều patê vào bánh mỳ. Và khi con chuẩn bị chạy ra ngoài chơi còn cha đi về phía ga tàu, con đã quay lại đưa tay lên vẫy cha và gọi: “Con chào Cha!”, còn cha thì nhíu mày và đáp, “Nhớ về sớm đấy!”.

Rồi tất cả lại tái diễn vào buổi chiều muộn. Khi bước trên đường, cha đã theo dõi con, con đang quỳ xuống chơi bi. Trên đôi tất của con có mấy vết rách. Cha đã làm con xấu hổ trước mặt bạn bè khi lôi con về nhà. Đôi tất ấy thật sự rất đắt tiền - và nếu con phải bỏ tiền ra mua chúng thì con sẽ thận trọng hơn! Hãy tưởng tượng điều đó con trai, từ một người cha!

Con có nhớ không, sau đó khi cha đang ngồi trong thư viện, con đã rụt rè bước đến, nét tổn thương còn đọng trên đôi mắt con? Khi cha ngước mắt lên khỏi tờ báo, sốt ruột vì bị quấy rầy, con ngần ngừ đứng trên ngưỡng cửa: “Mày muốn gì hả?”. Cha nạt.

Con chẳng nói gì, mà con chỉ chạy rầm rập vào phòng, choàng tay quanh cổ cha và hôn cha, đôi vòng tay bé bỏng của con xiết chặt với sự yêu thương trìu mến mà Chúa đã làm nó bừng nở trong trái tim con mà không một sự sao nhãng nào có thể làm nó khô héo. Thế rồi con lại chạy đi, lao thật nhanh lên gác.

Ôi, con trai, ngay sau khi cha buông rơi tờ báo, nỗi sợ hãi khó chịu khủng khiếp lan khắp người cha trong yên lặng và một nỗi sợ hãi lẫn đau xót nghẹn ngào xâm chiếm cõi lòng cha. Thói quen đang làm gì cha thế này? Thói quen bới bèo ra bọ, thói quen hay khiển trách và la mắng - đây là phần thưởng cha dành cho con khi con đã lớn ư? Không phải là cha không yêu thương con; đó chính là thứ mà cha đã mong đợi rất nhiều suốt thời tuổi trẻ. Cha đánh giá con bằng quan điểm một người trưởng thành như cha.

Và con người của con vẫn còn rất nhiều cái hay, cái tốt, cái đẹp. Trái tim nhỏ bé của con rộng lớn và ấm áp như ánh rạng đông bừng sáng trên khắp những ngọn đồi. Minh chứng cho điều ấy là cơn bốc đồng khi con hồn nhiên lao vào đặt lên má cha một nụ hôn chúc cha ngủ ngon. Đêm nay chẳng còn điều gì quan trọng hơn thế, con trai ạ. Cha đã tới bên giường con trong bóng tối, và cha đã quỳ cạnh giường con trong xấu hổ.

Đó là sự chuộc lỗi yếu đuối; Cha biết con còn quá bé bỏng để hiểu những cảm xúc này, ngay cả khi cha nói cho con nghe khi con đang thức giấc. Nhưng ngày mai cha sẽ là một người cha thực sự! Cha sẽ là người bạn trung thành của con, sẽ đau khổ khi con gặp bất hạnh, sẽ cười vui khi con hạnh phúc. Cha sẽ cắn chặt môi để ngăn mình không quát mắng. Cha sẽ không ngừng nhắc đi nhắc lại câu này như một nghi lễ: “Nó chỉ là một thằng bé - một thằng bé con thôi mà”.

Cha đã xem con như một người đàn ông mất rồi. Nhưng mà giờ đây, khi cha nhìn con cuộn mình trong chăn và mệt mỏi ngủ yên trên chiếc giường bé xíu, cha chợt nhận ra rằng con chỉ là một đứa trẻ thơ ngây. Hôm qua con vẫn còn nằm trong vòng tay mẹ, đầu con tựa lên vai mẹ. Vậy mà cha đã đòi hỏi ở con quá nhiều, quá nhiều”.

Thay vì lên án, chỉ trích người khác, hãy cố gắng thấu hiểu họ. Hãy cố gắng tìm hiểu xem tại sao họ lại làm như thế. Điều này còn có lợi hơn và kích thích sự tò mò nhiều hơn chỉ trích; và nó sẽ nuôi dưỡng sự cảm thông, sự khoan thứ và tử tế. “Biết mọi thứ cũng có nghĩa là tha thứ tất cả”. 

Như tiến sĩ Johnson đã từng nói : ”Ngay cả Chúa Trời còn không xét đoán một người nào, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời mình”. 

Vậy thì tại sao bạn và tôi lại làm điều đó?

NGUYÊN TẮC 1

Không chỉ trích, lên án hoặc khiếu nại.

10 Bình luận